Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ cấu ngành nghề và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề Chương 2: Thực trạng phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN Tp. HCM đến năm 2006 Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN Tp. HCM đến năm 2020 Kết luận 10 CHÖÔNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ 1.1- Khái niệm về cơ cấu ngành nghề (CCNN): Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống. (Từ điển Triết học. NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1975, tr.269-270) Cũng như vậy, đối với các KCX-KCN Tp. HCM, khi xem nó là một hệ thống thì có thể thấy rất nhiều các bộ phận và cơ cấu hợp thành chúng, tùy theo cách mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy.
Đặc biệt, sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ cấu. Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế. Đối với đề tài này, chúng ta chỉ tập trung vào những vấn đề của cơ cấu ngành nghề. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, CCNN (của nền kinh tế) là tập hợp tất cả các ngành nghề hình thành nền kinh tế và mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng.
Sự phát triển nền sản xuất xã hội từ nền kinh tế tự nhiên tới nền kinh tế hàng hóa cũng có nghĩa là xuất hiện những ngành độc lập, dựa trên những đối tượng sản xuất khác nhau. Sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành nghề càng trở nên phức tạp và đa dạng. Ở đây, CCNN biểu hiện ra dưới các hình thức ngành lớn (ngành cấp I): nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; các phân ngành (ngành cấp II): chăn nuôi, trồng trọt… 11 trong nông nghiệp; cơ khí, luyện kim, năng lượng… trong công nghiệp…; ngành cấp III (may mặc, sợi, dệt…) trong dệt may… Sự vận động của các ngành nghề và mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và của từng vùng, khu vực. Vì vậy, nghiên cứu CCNN là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn cho từng vùng, khu vực hay quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân một các nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất.2- Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề (CCNN): Chuyển dịch cơ cấu do sự thay đổi các chính sách và do các biến động về mặt xã hội gây ra, nó có thể được thực hiện một cách chủ động, có ý thức hoặc xảy ra do điều kiện khách quan, có thể không theo dự kiến hoặc ngược lại với dự kiến.
Theo đó, chuyển dịch CCNN là quá trình phát triển của các ngành nghề dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó sao cho phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra. Chuyển dịch CCNN chỉ xảy ra sau một thời gian nhất định và sự phát triển của các ngành nghề dẫn đến thay đổi mối quan hệ tương đối ổn định vốn có của chúng. Trên thực tế, những biểu hiện của những thay đổi này là: - Sự thay đổi về số lượng cũng như loại ngành nghề trong nền kinh tế (sự mất đi một số ngành nghề đã có hay sự xuất hiện một số ngành nghề mới). - Tăng trưởng về quy mô và nhịp độ khác nhau của các ngành nghề sẽ dẫn tới thay đổi CCNN của nền kinh tế.
- Tốc độ biến đổi tương quan giữa các ngành nghề thường được xác định qua chỉ tiêu “tốc độ tăng trưởng của ngành”. - Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành nghề (khi một ngành ra đời hay phát triển, do có mối quan hệ với ngành khác, nó có thể tác động thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển các ngành có liên quan tới nó).3- Những chỉ tiêu phản ánh và ý nghĩa của chuyển dịch CCNN: Khi phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch CCNN, các nhà kinh tế học thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu gồm cơ cấu GDP, cơ cấu lao động và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu xem xét. [4] Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm thay đổi rất lớn về các loại cơ cấu, trước hết là CCNN. Sự thay đổi của CCNN phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, biểu hiện chủ yếu trên hai mặt: một là, lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc; hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lược nó lại càng làm cho các mối quan hệ kinh tế thị trường càng củng cố và phát triển.
Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của cơ cấu kinh tế, đặc biệt là CCNN (bao gồm tất cả các cấp độ phân ngành) phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội. Và trong thời kỳ công nghiệp hóa, nó phản ánh mức độ đạt được của quá trình công nghiệp hóa. Chính vì thế, ngày nay kinh tế học phát triển coi chuyển dịch CCNN là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế. Trong quá trình phát triển, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong tổng nguồn lao động xã hội tăng, trong khi tỷ trọng của nông nghiệp giảm.
Đồng thời dân cư thành thị tăng, dân cư nông thôn giảm. Sự thay đổi CCNN phản ánh mức độ thay đổi của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển cao hơn và thay thế dần những khu vực sản xuất kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp. Dù quá trình công nghiệp hóa có diễn ra dưới bất kỳ hình thức hay mô hình nào thì sự thay đổi cơ cấu đáng kể nhất của quá trình này vẫn là sự thay đổi tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp truyền thống, năng suất thấp vốn chiếm phần lớn trong nền kinh tế sang một nền kinh tế có tỷ trọng lao động công nghiệp (nhất là công nghiệp chế biến) có năng suất cao hơn. Lẽ đương nhiên, cùng với quá trình phát triển nền sản xuất công 13 nghiệp dựa trên kỹ thuật công nghệ hiện đại, một khu vực dịch vụ hiện đại cũng ra đời và ngày càng phát triển.
Đặc biệt là từ một vài thập kỷ gần đây, sự phát triển của khu vực dịch vụ này được xem là một trong những đặc trưng mới của xu hướng phát triển thế giới, xu hướng phát triển của kỷ nguyên hậu công nghiệp, khiến cho cách tiếp cận vấn đề cơ cấu và chuyển dịch CCNN trong quá trình công nghiệp hóa có những thay đổi không nhỏ.2- Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch CCNN: Để chuyển dịch CCNN thành công, cần chú ý đến những nhân tố sau: 1.1- Các nguồn lực tự nhiên: Nhà kinh tế học cổ điển William Petty đã từng nói: “Lao động là cha của của cải, còn đất là mẹ của nó”. (Karl marx – Tư bản, Tập 1, Q1, Phần 1. NXB Tiến bộ Matxcơva và NXB Sự Thật Hà Nội, tr. Cơ cấu kinh tế của một quốc gia được hình thành như thế nào đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguồn tài nguyên thiên nhiên ban tặng.
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành CCNN của các nền kinh tế của các quốc gia, của từng vùng, khu vực trong mỗi quốc gia. Nguồn lực tự nhiên có thể được kể đến quy mô đất đai để canh tác, xây dựng và đầu tư; địa hình và khí hậu, nguồn nước, mỏ khoáng sản… Nguồn lực tự nhiên tạo nên cái mà các nhà kinh tế học gọi là “lợi thế tuyệt đối” trong phân công lao động của các nền kinh tế. Song, để thúc đẩy sự chuyển dịch CCNN trong quá trình CNH- HĐH thì cần phải có những chính sách, định hướng, quy hoạch sao cho đúng, phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng khu vực trong từng giai đoạn phát triển khác nhau.2- Nguồn vốn đầu tư: Nhân tố kinh tế quan trọng luôn ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình chuyển dịch CCNN là quy mô nguồn vốn đầu tư. Do khởi phát quá trình CNH trong điều kiện một nền kinh tế nghèo nàn, hầu như đối với tất cả các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư là chiếc “cổ họng hẹp” đối với quá trình tăng trưởng và chuyển dịch CCNN.
Khát vốn là căn bệnh dai dẳng đối với những quốc gia đang mong muốn đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH. Vì lẽ đó, việc xác định CCNN không thể không tính tới khả năng của nguồn vốn đầu tư có thể huy động được. 14 Trong giai đoạn hiện nay, ngoài sự tác động của nhân tố vốn đến sự hình thành CCNN, còn có sự tác động của toàn cầu hóa và tính chất, mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, trước hết qua chính sách đầu tư có một ý nghĩa rất to lớn đối với sự chuyển dịch CCNN của nền kinh tế. Vì thế, để có thể khơi thông dòng chảy vốn đầu tư từ bên ngoài cần phải cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư.3- Nguồn nhân lực: Nguồn lực con người khi được xem xét ở góc độ đầu vào của quá trình sản xuất (sức lao động), từ lâu đã được coi như một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với quá trình sản xuất.
Những khía cạnh cần chú ý: - Quy mô nguồn nhân lực: là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành CCNN.