CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GÒ QUAO 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư huyện Gò Quao 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Gò Quao là một huyện của tỉnh Kiên Giang. Phía Đông giáp thành phố Vị Thanh (tỉnh Hậu Giang), phía Tây giáp huyện Vĩnh Thuận, huyện An Biên (tỉnh Kiên Giang), phía Nam giáp huyện Hồng Dân (tỉnh Bạc Liêu), phía Bắc giáp huyện Giồng Riềng, huyện Châu Thành (tỉnh Kiên Giang).
Trải qua quá trình lịch sử, Gò Quao có những thay đổi về địa giới hành chính, theo tập tài liệu Truyền thống đấu tranh của Đảng bộ và quân dân Gò Quao: Lúc mới thành lập vào đầu thế kỷ XX, huyện có 9 xã: Vĩnh Thạnh, Long Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang), Đông Yên (nay thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang), Vĩnh Hòa (nay thuộc huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang) và Định An, Vĩnh Hòa Hưng, Vĩnh Phước, Thới An, Hóa Quản; sau đó có thêm Định Hòa. Có lúc Vĩnh Tuy thuộc huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang), Hồng Dân (tỉnh Bạc Liêu). Trong kháng chiến chống Mỹ, huyện có các xã: Vĩnh Tuy, Vĩnh Phước (có lúc chia làm 2 xã: Vĩnh Phước An Vĩnh Phước B), Định An, Định Hòa, Thủy Liễu, Thới Quản (có lúc Thới Quản chia làm 2 xã: Thới An, Hóa Quản), Vĩnh Hòa Hưng (có lúc chia làm 2 xã: Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Vĩnh Hòa Hưng Nam). Cũng có lúc Thới An, Hóa Quản thuộc huyện Châu Thành (tỉnh Kiên Giang).
Hiện nay huyện có 11 xã, thị trấn: Vĩnh Tuy, Vĩnh Thắng, Vĩnh Phước A, Vĩnh Phước B, Thủy Liễu, Thới Quản, Định An, Định Hòa, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hòa Hưng Bắc và thị trấn Gò Quao. 12 Huyện Gò Quao có diện tích tự nhiên 424,42Km2, trung tâm Huyện cách thành phố Rạch Giá 45 km. Huyện có Quốc lộ 61 xuyên qua nối liền Rạch Giá - Cần Thơ. Đoạn từ thành phố Rạch Giá đến Lộ Quẹo (xã Định An) được chia thành 2 nhánh: một nhánh đi Cái Tư (xã Vĩnh Hòa Hưng Nam) để đi Cần Thơ, một nhánh rẽ về thị trấn Gò Quao - trung tâm hành chính của huyện.
Về đường thủy, huyện được bao bọc bởi 4 con sông: Cái Lớn, Cái Tàu, Cái Tư và Cái Bé. Trong đó con sông Cái Lớn xuyên qua phần đất Gò Quao dài nhất. Nó bắt nguồn từ xã Long Bình (Long Mỹ, Hậu Giang) qua địa phần Gò Quao rồi đổ ra biển Rạch Giá. Sông sâu trung bình 15m, rộng nhất khoảng 800m.
Sông có nhiều nhánh và phụ lưu, thông thương với Sông Cái Bé, Cái Tư, Cái Tàu. Các dòng sông này là điều kiện thuận lợi phục vụ cho vận chuyển, lưu thông hàng hóa và phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gò Quao. Địa danh Gò Quao, theo truyền thuyết dân gian, địa danh được cấu thành theo địa thế tự nhiên cộng với tên một loài cây (cây Quao). Trong những năm tháng khai khẩn đất hoang, người dân tại nơi đây đã đúc kết thành những kinh nghiệm trong việc đối phó với thiên nhiên và thú dữ, họ tìm cho mình những chỗ cao ráo và có nhiều lợi thế vừa sinh hoạt, vừa canh tác để nuôi bản thân mình.
Trong quá trình đó họ tìm thấy ở ngay bên vàm rạch một khoảng đất cao ráo, ở đó có nhiều cây Quao mọc, dần dần quen gọi thành Gò Quao. Ngày 20 tháng 5 năm 1920, thực dân Pháp lập quận Gò Quao thuộc tỉnh Rạch Giá, gồm 2 tổng là: tổng Kiên Định có 5 làng, tổng Thanh Biên có 7 làng. Ngày 24 tháng 11 năm 1925, chuyển tổng Thanh Biên sang quận An Biên, quận Gò Quao còn lại tổng Kiên Định. Năm 1951 tỉnh Rạch Giá giải thể, huyện Gò Quao thuộc tỉnh Cần Thơ.
Lúc này huyện Gò Quao có các xã Vĩnh Phước, Vĩnh Hòa Hưng, Thủy Liễu, Định An, Định Hòa. 13 Năm 1954, tỉnh Rạch Giá được lập lại, Gò Quao lại trở về Rạch Giá với các xã Thới Quản, Thủy Liễu, Định An, Định Hòa, Vĩnh Hòa Hưng, Vĩnh Phước. Riêng Vĩnh Tuy đến năm 1958 mới được Long Mỹ giao lại. Năm 1964 giao Thới Quản cho huyện Châu Thành B, năm 1972 giao trở lại Gò Quao, năm 1973 lại giao cho Châu Thành B, năm 1975 mới giao trở lại.
Sau Mậu Thân 1968, Vĩnh Phước được chia ra làm 2: Vĩnh Phước A và Vĩnh Phước B, đến năm 1975 nhập lại. Năm 1972, Vĩnh Hoà Hưng được chia ra làm 2, lấy tên là Vĩnh Hoà Hưng Bắc, Vĩnh Hoà Hưng Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam của tỉnh Rạch Giá lúc bấy giờ vẫn đặt huyện Gò Quao thuộc tỉnh Rạch Giá cho đến đầu năm 1976. Từ tháng 2 năm 1976, Gò Quao trở thành tên huyện của tỉnh Kiên Giang, gồm có 7 xã là: Vĩnh Hoà Hưng, Vĩnh Phước, Vĩnh Tuy, Thới Quản, Thủy Liễu, Định Hoà, Định An.
Ngày 10 tháng 10 năm 1981, huyện Gò Quao lập 3 xã mới: Vĩnh Hoà Thạnh, Vĩnh Hoà Dũng, Vĩnh Hiệp Hoà. Ngày 27/9/1983, lập thêm 8 xã mới: Vĩnh Thắng, Vĩnh Hùng, Thới An, Thủy Tiến, Định Thành, Tân Hoà Lợi, Phước Tân, Phước An. Ngày 24 tháng 5 năm 1988, giải thể các xã: Vĩnh Thắng, Vĩnh Hoà Hưng, Vĩnh Hoà Thạnh, Vĩnh Hoà Dũng, Vĩnh Hiệp Hoà, Phước Tân, Định Thành, Thới An; lập mới thị trấn Gò Quao và 2 xã: Vĩnh Hoà Hưng Bắc, Vĩnh Hoà Hưng Nam. Ngày 18 tháng 3 năm 1997, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 23-CP, chia xã Vĩnh Phước thành 2 xã: Vĩnh Phước A, Vĩnh Phước B.
Xã Vĩnh Phước A có 4.198 ha diện tích tự nhiên và 9. Xã Vĩnh Phước B có 2.822 ha diện tích tự nhiên và 9.835 nhân khẩu [35, tr. Ngày 14 tháng 11 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 84/2001/NĐ-CP, thành lập xã Vĩnh Thắng trên cơ sở 3.383 ha diện tích tự 14 nhiên và 10.325 nhân khẩu xã Vĩnh Tuy. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã Vĩnh Thắng, xã Vĩnh Tuy còn lại 3.442 ha diện tích tự nhiên và 10.905 nhân khẩu [36, tr.
Cuối năm 2004, huyện Gò Quao có thị trấn Gò Quao và 10 xã là: Vĩnh Hoà Hưng Bắc, Vĩnh Hoà Hưng Nam, Định Hoà, Thới Quản, Định An, Thủy Liễu, Vĩnh Phước A, Vĩnh Phước B, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thắng. Ngày 26 tháng 7 năm 2005, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 97/2005/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang; điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc các huyện Gò Quao, An Minh, Châu Thành, Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang: Điều chỉnh 280ha diện tích tự nhiên và 1.230 nhân khẩu của xã Vĩnh Phước B thuộc huyện Gò Quao về thị trấn Gò Quao quản lý. Thị trấn Gò Quao có 1.954 ha diện tích tự nhiên và 9. Xã Vĩnh Phước B còn lại 2.754,91ha diện tích tự nhiên và 8.156 nhân khẩu [37; tr.
Về dân cư Khoảng thế kỷ XV, vùng đất Gò Quao còn hoang vu, rừng rậm với nhiều thú dữ, chỉ có một nhóm cư dân Khơmer sống ở Rạch Tìa (Định An) và một số người Kinh sống rải rác ven sông Cái Lớn, Cái Bé và một số kênh rạch trong các nhánh sông nhỏ đổ ra sông Cái Lớn, Cái Bé, Cái Tàu. Đến thế kỷ thứ XVIII, người Việt tiến về phương Nam ngày càng đông theo chủ trương khai khẩn vùng đất phía Nam của các đời chúa Nguyễn. Khi đến vùng đất Gò Quao, người Việt thường tập trung chủ yếu ở dọc theo 2 bờ sông, các kênh rạch, thích nghi với vùng đất thấp và trồng lúa nước. Ngoài ra, phần lớn cư dân miền Trung không chấp nhận sự cai trị hà khác của chúa Nguyễn, chấp nhận rời bỏ làng quê phiêu lưu di cư về phương Nam và họ đi vào vùng đất Gò Quao để sinh sống.
Cư dân còn là những tù 15 nhân, những phần tử bất trị, không chịu sống kiếp khuất phục, ương hèn trước bọn cường quyền của vua quan Nhà Nguyễn. Kế đến là những con người yêu nước chống ngoại xâm; một số nhân dân lao động từ Trung Quốc vì không phục tùng chế độ nhà Mãn Thanh đã chạy vào Đàng Trong, đến Gò Quao sinh sống. Ngoài ra, còn một số nông dân người Khơmer từ các Phum - Sóc lân cận bị những tên địa chủ đem theo để làm tá điền. Họ luôn quan niệm rằng, tiến về phương Nam là tiến về miền đất hoang vu, đầy những muỗi mòng, rắn rít, đầy những trăn sấu, hùm beo và trong từng bước khai phá gian nan đương đầu với những bất trắc không lường từ phía thiên nhiên và phía con người.
Cư dân khắp nơi đến vùng đất này, vừa mưu sinh lập nghiệp khai khẩn đất đai, vừa phải đối phó với muôn vàn khó khăn, thử thách, với rừng thiêng nước độc và thú dữ. Những chuyện bị cọp ăn, sấu cắn và chuyện thuốc cọp, rượt cọp, câu sấu tưởng chừng như huyền thoại nhưng lại là sự thật. Tại đây, dân tộc Kinh và Khơmer đã đoàn kết chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, khai phá rừng hoang, xây dựng và bảo vệ cuộc sống gắn liền với truyền thuyết người con gái Thị Cư đánh cọp, sẵn sàng hy sinh để góp phần đem lại yên lành cho xóm làng. Nếu đi từ Thị trấn ngược sông Cái Lớn chừng 3km là tới một ngã ba rộng, đó là Ngã Ba Tàu, hay còn gọi là Xép Ba tàu.
Từ đây rẽ trái chừng 2km tới một vàm rạch gọi là rạch Mồ Thị Cư. Ngay bên vàm rạch có một miếu nhỏ, đó là miếu thờ người con gái có tên Thị Cư. Có người cho rằng người con gái có tên họ Hồ, tức Hồ Thị Cư, con người tên Hưng ở tận Bình Định võ nghệ cao cường. Có người nói là người con gái đó là người khmer, có tên Thị Cư, còn mồ là Mồ của cô gái.
16 Đầu thế kỷ XX một số người Hoa đến sinh sống ở ven sông Cái Lớn, Cái Tư và chợ Vĩnh Phước. Đến sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 dân số có khoảng 25.535 người, trong đó có 45.507 người Khơmer, chiếm 30,59%, có 2.596 người Hoa chiếm 1,95% [16; tr. Ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer luôn đoàn kết, gắn bó bên nhau. Nhân dân Gò Quao chung thủy sắc son, tạo thành căn cứ cách mạng vững chắc, nuôi chứa cán bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng.
Đã một thời Xứ Ủy Nam Kỳ, Trung ương Cục Miền Nam, khu ủy Nam Bộ từng ở đây. Cũng là căn cứ của Tỉnh ủy Rạch Giá, Thị ủy Vị Thanh và nhiều cơ quan khác. Là đường dây an toàn, quan trọng của các nơi về căn cứ U Minh và ngược lại. Các đơn vị chủ lực của ta thường chọn địa bàn Gò Quao làm điểm dừng chân, xuất phát trong mỗi chiến dịch, mỗi đợt tấn công.