chương 1 quy định về TDTT trường học như sau: Điều 14 của Pháp lệnh: “TDTT trường học bao gồm GDTC và hoạt động TDTT ngoại khóa cho người học. GDTC trong trường học là chế độ GDTC bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục 8 toàn diện người học. Nhà nước khuyến khích hoạt động TDTT ngoại khóa trong nhà trường” [33] Điều 15 của Pháp lệnh quy định: “Bộ giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ủy ban TDTT thực hiện các nhiệm vụ: xây dựng, chỉ đạo thực hiện chương trình GDTC. Quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và đánh giá kết quả rèn luyện thân thể của người học.
Đào tạo, bồi dưỡng và đảm bảo đủ giáo viên, giảng viên TDTT. Quy định hệ thống thi đấu TDTT trường học" [33]. Tóm lại, qua những Chỉ thị và Nghị quyết trên cho thấy: Đảng và Nhà nước rất coi trọng việc tăng cường sức khỏe cho nhân dân, nhất là đối với tầng lớp học sinh, sinh viên. Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của thời đại hiện nay, việc giáo dục và phát triển thể chất là một trong những biện pháp tích cực nhất góp phần tăng cường và bảo vệ sức khỏe, cải tạo nòi giống.
Đó cũng là vấn đề cốt lõi mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu, để góp phần xây dựng một đất nước “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”và phấn đấu đạt vị trí ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới trong tương lai. Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục thể chất 1. Khái niệm giáo dục thể chất Thể chất là chỉ chất lượng thân thể con người. Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể, được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (có giáo dục và có rèn luyện).
Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng, khả năng thích ứng. Thể hình: liên quan đến hình thái, cấu trúc của cơ thể, bao gồm trình độ phát triển cơ thể, những chỉ số tuyệt đối và tương đối của toàn thân hoặc từng bộ phận và tư thế thân thể. Năng lực thể chất: Thể hiện khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể qua hoạt động cơ bắp là chính. Nó bao gồm các yếu tố vận 9 động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động) cùng các năng lực vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy, leo trèo, mang vác… Năng lực thích ứng: Không những thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể đối với hoàn cảnh bề ngoài mà còn có khả năng đề kháng với bệnh tật.
Giáo dục thể chất: Mátvêép L.D khái niệm rằng: “Giáo dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục – giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm, hoặc là được thực hiện dưới hình thức tự giáo dục”. [31] Nguyễn Toán đã mô tả giáo dục thể chất với khái niệm: “ Giáo dục thể chất còn là một bộ phận của thể dục thể thao. Giáo dục thể chất còn là một trong những hoạt động cơ bản có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, mọt quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng (chủ yếu là trong nhà trường)giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các yếu tố vận động của con người”[42] Giáo dục thể chất có rất nhiều khái niệm, ở những góc độ, góc nhìn khác nhau, song đều nói lên hai mặt của một quá trình giáo dục thể chất đó là giáo dục và giáo dưỡng.[44] Giáo dưỡng: là quá trình dạy học vận động hay giảng dạy động tác qua đó hình thành kỹ năng vận động, kỹ xảo vận động và những biểu hiện liên quan Giáo dục: là giáo dục các tố chất thể lực và phẩm chất ý chí con người. Quá trình giảng dạy động tác và phát triển các tố chất thể lực có liên quan chặt chẻ và làm tiền đề cho nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau nhưng chúng không bao giờ đồng nhất và có liên quan khác biệt trong các giai đoạn phát triển, hoàn thiên thể chất người tập.
10 Trạng thái thể chất: chủ yếu nói về trạng thái cơ thể qua một số dấu hiệu về thể trạng được các định bằng các cách đo tương đối đơn giản như chiều cao, cân nặng, vòng ngực…trong một thời điểm nào đó”[42] Phát triển thể chất: là quá trình biến đổi và hoàn thành các tính chất tự nhiên về hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội. hay nói cách khác, phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những tố chất thể lực và năng lực vận động[42]. Phát triển thể chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố tạo thành và sự biến đổi của nó diễn ra theo quy luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học tự nhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, phương pháp và biện pháp giáo dục cũng như mọi trường sống. Hoàn thiện thể chất: hoàn thiện thể chất là phát triển thể chất lên một trình độ cao, nhằm đáp ứng một cách hợp lý các nhu cầu của hoạt động lao động xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạo của con người.[38] Tóm lại, giáo dục thể chất có ý nghĩa rất quan trọng việc nâng cao sức khỏe, thể lực cho mọi người nói chung và cho học sinh nói riêng.
Đó chính là mục tiêu quan trọng nhất và là kim chỉ nam xuyên suốt từ tiểu học hết Trung học phổ thông và Cao đẳng - Đại học. Vì vậy việc xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất phải luôn có tính khả thi, luôn luôn phù hợp với chương trình khung của Bộ GD & ĐT quy định, phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi, giới tính, với sức khỏe và thể lực của học sinh, đồng thời mở rộng quyền chủ động, sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương trong quá trình thực hiện, là xu thế phát triển tất yếu của giáo dục Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21. Khái niệm về chương trình Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng – NXB Giáo dục – 1998, chương trình được giải nghĩa như sau:[45] Là “ các mục, các vấn đề, các nhiệm vụ đề ra và được sắp xếp theo trình tự thực hiện trong một thời gian”. Là “ nội dung kiến thức về một môn học ấn định cho từng lớp, từng cấp, trong từng năm”.
Chương trình đào tạo [15] Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển bách khoa, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là: “ Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức và phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo” Chương trình đào tạo: Là một bản thiết kế tổng thể các hoạt động của quá trình đào tạo trong một khóa hoặc một loại hình đào tạo nhất định, trong đó xác định mục tiêu rõ mục tiêu chung, các thành phần, nội dung cơ bản, phương pháp đào tạo, hình thức tổ chức, lịch trình ( kế hoạch ) đào tạo tổng thể, cũng như các yêu cầu hiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo trong quá trình và kết thúc khóa đào tạo. Chương trình giảng dạy: Là một bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khóa đào tạo, phản ánh cụ thể nội dung, cấu trúc, trình tự, cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy trong toàn khóa đào tạo và cho từng môn học, phần học, chương, mục, bài giảng. Chương trình giảng dạy do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình giáo dục đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. 12 Chương trình khung hay chương trình đào tạo khung: Là bản thiết kế phản ánh cấu trúc tổng thể về thời lượng và các thành phần, nội dung đào tạo cơ bản của chương trình đào tạo, làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình đào tạo theo các nhóm, ngành, nghề cụ thể ở từng cấp, bậc học hoặc loại hình đào tạo.
Có thể hiểu chương trình khung là khung chương trình và phần nội dung đào tạo cơ bản, lõi, ( bắt buộc ) tương ứng với những thời lương nhất định để đảm bảo đạt được mục tiêu đào tạo với chuẩn trình độ đào tạo tương ứng. Chương trình như là một khối lượng kiến thức được chuyển hóa qua khâu thiết kế. Chương trình như là kết quả chắc chắn đạt được người học vào cuối khóa – sản phẩm đào tạo Chương trình là một quá trình ( tổ chức thực hiện ). Vậy chương trình dạy học thể dục thể thao: Là một bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy phản ánh cụ thể nội dung, cấu trúc, trình tự, cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho từng môn học, học phần học, chương, mục, bài giảng.
Chương trình giảng dạy thể dục thể thao do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình giáo dục các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình. Cấu trúc chương trình. Chương trình dạy học thể dục thể thao là một văn bản dựa vào kế hoạch giảng dạy chung của trường để quy định nội dung dạy học và chỉ đạo dạy học thể dục thể thao.
Chương trình chỉ rõ phương hướng dạy học, quy định mật độ, phạm vi và hệ thống nội dung dạy học, cũng như những yêu cầu cơ bản đối với dạy học. Nó là chỗ dựa để biên soạn giáo trình thể dục thể thao và giáo viên tiến hành dạy học, là căn cứ để quản lý công tác dạy học. Chương trình và giáo trình dạy học thể dục thể thao trường học các cấp do Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm 13 định và ban hành. Kết cấu chương trình dạy học TDTT nói chung bao gồm 3 phần cơ bản sau đây: * Thuyết minh chương trình, gồm các phần sau: - Mục tiêu và nhiệm vụ dạy học TDTT.