CHƯƠNG 1 CĂN CỨ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về sự phát triển thể dục thể thao Tp.Hồ Chí Minh và sự phát triển của Karetedo ở nước ta: 1. Sự phát triển thể dục thể thao Tp.Hồ Chí Minh Trong những năm gần đây, sự nghiệp thể dục, thể thao nước ta đã có nhiều tiến bộ. Thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục phát triển với nhiều hình thức đa dạng, góp phần nâng cao sức khỏe, xây dựng lối sống lành mạnh, cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Thể thao thành tích cao có bước phát triển, thành tích một số môn đạt được trình độ châu Á và thế giới. Cơ sở vật chất, kỹ thuật cho thể dục, thể thao từng bước được nâng cấp và xây dựng mới. Hợp tác quốc tế về thể thao được tăng cường, vị thế của thể thao Việt Nam được nâng cao, nhất là ở khu vực Ðông - Nam Á. Ðạt được những thành tích trên là do sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền; sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và đông đảo nhân dân; sự nỗ lực phấn đấu của huấn luyện viên, vận động viên và cán bộ thể dục, thể thao.
Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) là một trong những nơi tập trung đông dân nhất, đồng thời cũng là nơi trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. Trong những năm gần đây, phong trào thể dục thể thao tại thành phố Hồ Chí Minh hoạt động rất mạnh mẽ, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các hình thức tập luyện và thi đấu thể dục, thể thao ở cơ sở, giữ gìn, tôn vinh những giá trị thể dục, thể thao dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát triển nền thể dục, thể thao mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân và văn minh, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá và giáo dục con người để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đáp ứng yêu cầu công tác, Ngành thể dục thể thao (TDTT) thành phố Hồ Chí Minh đều có kế hoạch tuyển chọn nhân sự phục vụ cho sự phát triển của ngành. Được sự quan tâm đầu tư của Thành phố, Sở tập trung đào tạo theo nhu cầu 10 và đặc thù của ngành Văn hóa và Thể thao.
Từ đó đội ngũ cán bộ của ngành ngày càng được chuẩn hóa về chất lượng, phát huy tốt và có tinh thần trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ của Thành phố giao phó. Đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Tăng tỉ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao; đồng thời phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển TDTT, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động thể dục thể thao. Đặc biệt trong giai đoạn gần đây, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực ngành không ngừng được đẩy mạnh với nhiều kế hoạch và hình thức như đào tạo đại học và sau đại học đối với nhân lực ngành văn hóa, thể thao và du lịch, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý cho cán bộ ngành ở quận - huyện, phường - xã.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của ngành có bản lĩnh chính trị vững vàng, khắc phục khó khăn, năng động và sáng tạo, cần cù, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, gắn bó với quần chúng, có tinh thần trách nhiệm cao. Tuy nhiên, chính sách đào tạo bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ trí thức vẫn còn nhiều hạn chế. Chính sách tiền lương vẫn tồn tại một số điểm chưa phù hợp nên điều kiện sống và làm việc của cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều khó khăn. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại thành phố Hồ Chí Minh đã có những đóng góp không nhỏ trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của thành phố nói riêng và của đất nước nói chung.
Bên cạnh những cán bộ, công chức, viên chức thâm niên cao, có nhiều kinh nghiệm cũng đã và đang bồi dưỡng lực lượng kế cận, có khả năng tiếp nối sự nghiệp quản lý và phát triển văn hóa, thể thao và du lịch trong thời đại mới. Hiện nay, tại thành phố Hồ Chí Minh đã và đang nâng cao về chất lượng của nguồn nhân lực. Trong đó, Sở Văn hóa và Thể thao được phân công chủ trì xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình nâng cao chất lượng, phát hiện, phát triển bồi dưỡng năng khiếu, nhân tài lĩnh vực văn hóa, thể dục – thể thao, song song với việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn. Trên cơ sở đó, xây dựng lực lượng này trở thành những chuyên gia ở các lĩnh vực trên, góp phần thực hiện tốt định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc 11 dân tộc; củng cố, xây dựng, phát triển lĩnh vực văn hóa và thể dục – thể thao, nhất là thể thao thành tích cao.
Tuy nhiên, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác thể dục, thể thao ở một số quận huyện và ngành chưa đầy đủ, nhiều nơi còn coi nhẹ. Phong trào thể dục, thể thao phát triển chưa sâu rộng, giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong học sinh, sinh viên chưa thường xuyên và kém hiệu quả. Thành tích thể thao chưa bền vững, hệ thống tổ chức ngành thể dục, thể thao chưa ổn định, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất và khoa học, công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu. Ðầu tư của Nhà nước và huy động các nguồn lực từ cộng đồng cho thể dục, thể thao còn hạn chế.
Việc tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho phát triển TDTT là một trong những nội dung quan trọng của nhà nước. Để đảm bảo phát triển sự nghiệp TDTT theo đúng định hướng, không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động thể dục, thể thao, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực rất lớn, đa dạng, phong phú bao gồm nhiều lực lượng lao động khác nhau về chuyên môn nghiệp vụ và trình độ đào tạo từ cán bộ huấn luyện thể thao cấp cao ở trung ương đến cán bộ hấn luyện thể thao ở cơ sở. Sự phát triển của Karetedo ở nước ta: Không riêng gì nước ta mà hầu như khắp các nước trên thế giới võ thuật là một trong những môn thể thao hấp dẫn được rất đông người tham gia tập luyện, thi đấu. Đối với nền thể thao của nước ta thì võ thuật là một trong những môn thể thao mũi nhọn và giành nhiều thành tích cho thể thao nước nhà trên đấu trường châu lục cũng như thế giới và một trong những môn thế mạnh của thể thao Việt Nam là môn Karatedo.
Karatedo là một môn võ thuật truyền thống của Nhật Bản được hình thành với 4 hệ phái chính như: hệ phái Shotokan Ryu do tổ sư Funakoshi Gichin (1868-1957) sáng lập năm 1922, hệ phái Goju Ryu do tổ sư Chojun Miyagi (1888-1953) sáng lập năm 1929, hệ phái Shito Ryu do tổ sư Kenwa Mabuni (1889-1952) sáng lập năm 1931, hệ phái Wado Ryu do tổ sư Hironori Otsuka (1892-1982) sáng lập năm 1934. Từ khi du nhập vào Việt Nam năm 1960, môn võ này đã chiếm được sự yêu thích và tham gia tập luyện của đông đảo thanh thiếu niên cũng như các em nhỏ. Sự 12 phát triển của Karatedo Việt Nam trên đấu trường quốc tế tuy không nhanh nhưng ổn định. Môn võ Karatedo đã đóng góp một phần không nhỏ trong thành tích thi đấu, cùng với các môn thể thao khác đem về cho thể thao Việt Nam rất nhiều tấm huy chương vàng quý giá qua các kỳ Sea Games, Asiad Karatedo được xác định là một trong những môn thể thao mũi nhọn của thể thao Việt Nam trên đấu trường quốc tế.
Phong trào tập luyện Karatedo cả nước ngày một lớn mạnh, một số tỉnh thành tập trung đầu tư mạnh cho Karatedo là một thách thức đối với các trung tâm Karatedo mạnh như Quân đội nhân dân, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Công an nhân dân, Bình Dương. Một trong những hướng ưu tiên đầu tư là đào tạo đội ngũ huấn luyện viên, trọng tài song hành cùng đào tạo vận động viên trình độ cao. Muốn phát triển Karatedo bền vững, không thể lơ là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thể thao hiện đại. Thành tích của Karatedo Việt Nam chưa bền vững, hệ thống tổ chức vẫn chưa ổn định, đội ngũ cán bộ huấn luyện viên, cơ sở vật chất khoa học, công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu mà còn chậm đôi mới.
Đầu tư của nhà nước cho Karatedo còn thấp, huy động các nguồn lực từ cộng đồng còn rất hạn chế, nguồn nhân lực huấn luyện viên chưa đồng đều về trình độ và chuyên môn. Đây là cơ sở để thiết kế chương trình đào tạo HLV Karatedo một cách toàn diện, chính hệ thống, phân cấp bậc rõ ràng. Đội ngũ HLV tham gia chương trình được trang bị nhiều kiến thức thiết thực gắn với thực tiễn về nội dung, phương pháp huấn luyện, các vấn đề an toàn tập luyện, sơ cấp cứu đến các điều kiện đảm bảo cho công tác huấn luyện Karatedo được thành công. Nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực: 1.
Khái niệm nguồn nhân lực: Tiếp cận dựa trên khả năng lao động của con người: Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người có cơ thể phát triển bình thường có khả năng lao động. Tiếp cận dựa vào khả năng lao động và giới hạn tuổi lao động: Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm. Tiếp cận theo cách hiểu của các nhà kinh tế: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người của một quốc gia có trong một thời kỳ nhất định. Tiềm năng 13 đó bao gồm tổng hòa năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu do nền kinh tế - xã hội đòi hỏi (về số lượng, chất lượng và cơ cấu).