CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUANCUA VAN DE TO CHUC THUC HIEN CHUONG TRINH BOI DUONG TAI TRUNG TAM BOI DUONG CHINH TRI CÁP HUYỆN TIẾP CAN THEO NHU CÂU NGƯỜI HỌC 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên đã được nhiều nhà khoa học và các tác giả luận văn thạc sĩ, luận án tiễn sĩ quan tâm nghiên cứu. Cụ thé: Trong công trình nghiên cứu “Quá trình đổi môi công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” năm 2002, tác giả Vũ Ngọc Am đã đề cập đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng với việc nâng cao tính tự giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”; quá trình đổi mới nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở của Đảng Cộng sản Việt Nam; tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở, chống “diễn biến hòa bình” trong giai đoạn hiện nay [1]. Tác giả Cầm Thị Lai với công trình nghiên cứu “Đào tạo, bồi dưỡng LLCT, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay” năm 2012, đã làm rõ những van dé ly luận về đào tạo, bồi dưỡng LLCT, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc; đánh giá thực trạng trình độ, thực trạng công tác đảo tạo, bồi dưỡng LLCT, hành chính cho đội ngũ cán bộ này từ năm 2001 đến nay, chỉ ra nguyên nhân và kinh nghiệm; đề xuất những giải pháp chủ yếu đây mạnh đào tạo, bôi dưỡng LLCT, hành chính cho đội ngũ cán bộ này đến năm 2020 [22].
Với luận án tiễn sĩ Quản lý giáo dục “Mô hình quản lý cơ sở đào tạo, BDCT cấp huyện trong giai đoạn hiện nay” năm 2009, tác giả Đặng Thị Bích Liên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình quản lý cơ sở đào tạo, BDCT cấp huyện; nghiên cứu cơ sở thực tiễn quản lý cơ sở đào tạo, BDCT cấp huyện; trên cơ sở đó tác giả đề xuất mô hình quản lý và các giải pháp thực hiện mô hình quản lý cơ sé dao tao, BDCT cấp huyện [28]. Tác giả Nguyễn Thị Lệ Hà nghiên cứu về “Nóng cao chất lượng bôi dưỡng LLCT cho đảng viên mới ở Đảng bộ khối cơ quan cấp tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay (Qua thực tế hoạt động của các tô chức đảng ở Đảng bộ Khối cơ quan cấp tỉnh của tỉnh Hà Tĩnh) ” [42]. Dưới góc độ Tâm lý học, tác giả Nguyễn Văn Phương nghiên cứu “Kỹ năng học tập các môn LLCT của HV cao cấp LLCT hệ tập trung tại Học viện Chính trị khu vực II” (năm 2009). Trên cơ sở lý luận về kỹ năng học tập các môn LLCT của HV cao cấp LLCT hệ tập trung, tác giả đã đánh giá thực trạng kỹ năng học tập các môn LLCT cua HV cao cấp LLCT hệ tập trung tại Học viện Chính trị khu vực II và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này.
Từ đó tác giả đề xuất các biện pháp nâng cao kỹ năng học tập các môn LLCT cho HV hệ tập trung của Học viện [43]. Trong Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng “Chất lượng hoạt động của các TTBDCT huyện, thị xã, thành phố ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” năm 2008, tác giả Trịnh Thị Hoa đã đánh giá chất lượng hoạt động của các TTBDCTT huyện, thị xã, thành phố thông qua chất lượng của các lớp học, chất lượng HV. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động ở các TTBDCT huyện, thị xã, thành phố [37]. Trong cuốn “Công tác tư tưởng - văn hóa ở cấp huyện” tác giả Đào Duy Quát cũng bàn về công tác giáo dục LLCT ở các cấp huyện và vai trò, nhiệm vụ của TTBDCT cấp huyện [24].
Trong bài viết: “Đổi mới quản lý ở TTBDCT cấp huyện”, tac giả Đặng Công Minh đã dé cập đến việc cần thiết phải đổi mới công tác quản lý đảo tạo ở các TTBDCT cấp huyện [25]. Ngoài ra, có thể kế đến một số công trình nghiên cứu như “Nâng cao chát lượng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào công giáo ở các tỉnh ven biên đồng bằng Bắc bộ trong giai đoạn hiện nay” (năm 2003), tác giả Nguyễn Văn Giang đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của đội ngũ đảng viên và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ; thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm của chất lượng đội ngũ đảng viên và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ đã đưa ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ [40]. Trong luận án “Xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên ở các trường đại học, cao đăng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời kỳ mới” (năm 2001), tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trang đã đưa ra một số vấn đề lý luận và quan điểm về xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên; thực trạng và nguyên nhân xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên ở các trường đại học, cao đăng trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời kỳ mới [44]. Những công trình, bài viết nêu trên chủ yếu đề cập đến vấn đề giáo dục, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên ở nhiều khía cạnh, góc độ và mức độ khác nhau: Công tác bồi dưỡng LLCT ở cơ sở, vẫn đề đôi mới hoạt động của TTBDCT cấp huyện phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương hiện nay.
Tuy nhiên, vẫn đề tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng tại các trung tâm BDCT cấp huyện tiếp cận theo nhu cầu người còn ít được quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Nhu câu được xem là một thành tô cơ bản thuộc nhóm xu hướng, năm trong cấu nhân cách của cá nhân.
Trong tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm nhu cầu: Từ điển Tâm lý học do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên định nghĩa nhu cầu là: “Điều cần thiết để tồn tại và phát triển. Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căn thắng, âm ức” [45].TS Nguyễn Quang Uẫn quan niệm “Nhu cầu là đòi hỏi tất yêu ma con người thấy cần được thỏa mãn để tôn tại và phát triển” [30]. Trong giáo trình Tâm lý học Quân sự, GS.TS Nguyễn Ngọc Phú đưa ra khái niệm “Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, khách quan, biểu hiện sự cần thiết về một cái gì đó cần phải được thỏa mãn của con người trong cuộc sông và hoạt động” [41].Côvaliôp đã đề cập đến vấn đề nhu cầu với tư cách là nguồn gốc tính tích cực của hoạt động con người. Theo ông nhu cầu và sự thỏa mãn các nhu cầu của con người là động cơ thúc đây hoạt động, điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân và cả của tập thề nói chung.
Từ góc độ tâm lý học xã hội, Côvaliôp quan niệm “Nhu cầu là sự đòi hỏi của nhóm xã hội muốn có những điều kiện sống và phát triển nhất định.Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn các ý nghĩ, các rung cảm và ý chí của quần chúng, nó quy định hoạt động xã hội của giai cấp hoặc của tập thể” [2]. Ong cũng nhấn mạnh nhu cầu của con người, là đa dạng, nó mạng tính lịch sử và gắn liền với nền sản xuất xã hội, với sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội. Nhu cầu của con người vô cùng phong phú và đa dạng. Sự phát triển của con người, loài người là quá trình đáp ứng những nhu cầu, đồng thời cũng là quá trình nãy sinh những nhu cầu ngày càng mới.
Tuy nhiên nhu cầu chỉ được coi là tích cực khi việc đáp ứng chúng giúp con người phát triển về nhân cách. Trên cở sở phân tích và tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu cầu, chúng tôi tán thành quan điểm của tác giả Côvaliôp khi xem xét nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý xã hội. Đây là quan điểm khá hợp lý, đây đủ vê nhu câu của con người và chúng tôi dựa trên quan điêm này khi xem xét nhu cầu học tập của mỗi cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tổ chức Khái niệm tô chức được xem xét theo theo hai phương diện khác nhau: Thứ nhất, theo phương diện danh từ: Tổ chức được hiểu là một đơn vị, một tập thể, một nhóm người.
Cụ thể: - Theo Từ điển Quản lý xã hội: Quản lý là “Hệ thống ôn định của những cá nhân làm việc cùng nhau trên cơ sở phân cấp thứ bậc và phân hóa lao động dé dat tới các mục đích chung [39]. - Theo Từ điển Tâm lý học: “Ở phương diện tâm lý học, đó là sự liên kết có mục đích, có hệ thống các cá nhân hoặc các nhóm đang thực hiện một hoạt động trên cơ sở những mục đích, những lợi ích, những chương trình chung. Tổ chức được phân loại như sau: L) Các tổ chức chính thức: là những tô chức có vị thế pháp lý - hành chính. Mỗi cá nhân trong tổ chức chính thức được giao những chức trách, nhiệm vụ, đồng thời phải tuân thủ những chuẩn mực hành vi nhất định.
2) Những tổ chức không chính thức: là những cộng đồng người liên kết với nhau theo mục đích riêng, tự nguyện nhận các chức năng, nhiệm vụ không mang tính pháp lý bắt buộc [51]. Theo đó, tổ chức không chính thức có thể tồn tại bên trong tổ chức chính thức với mục đích hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác (các nhu cầu sinh hoạt và các nhu cầu ngoài công việc). Trong sinh hoạt của tổ chức chính thức, các hiện tượng tâm lý - xã hội diễn ra trong tập thể bị quy định bởi các mối quan hệ như: Quan hệ trách nhiệm cá nhân, quan hệ nhóm và tập thể, quan hệ lãnh đạo, chỉ huy phục tùng.