Chương 1: Những vấn đề lý luận về chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Chương 3: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về chứng minh và các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đối tƣợng và giới hạn chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1.
Khái niệm chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Theo từ điển Tiếng Việt, chứng minh là “dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó là đúng hay không đúng” [56, tr. Như vậy, có thể hiểu hoạt động chứng minh là hoạt động nhận thức, tư duy và thực tiễn của con người với mục đích nhất định, xác định sự tồn tại hay không tồn tại hoặc xác định đúng, sai của một sự vật, sự việc, hiện tượng trên cơ sở những chứng cứ, căn cứ cụ thể. Chứng minh trong hoạt động tố tụng hình sự là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung. Chứng minh trong TTHS là việc sử dụng chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án hình sự.
Ở nghĩa đó, chứng minh chính là việc “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc lý lẽ”. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn để xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh theo định hướng XHCN, pháp luật của nước ta luôn bám sát tư tưởng lớn của thời đại: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” [15]. Vì vậy, pháp luật TTHS của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là công cụ pháp lý sắc bén nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đấu tranh phòng, chống tội phạm là một quá trình quản lý xã hội, quản lý Nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương xã hội.
Hoạt động TTHS của nước ta là một dạng hoạt động của Nhà nước mang tính đặc thù nhưng cũng nằm trong mối liên hệ với các hoạt động khác về quản lý kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục.Lênin từng khẳng định: “Tác dụng ngăn ngừa của hình phạt hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ đã phạm tội thì không thoát 7 khỏi bị trừng phạt. Điều quan trọng không ,phải là ở chỗ đã phạm tội thì phải chịu trừng phạt nặng mà là ở chỗ không tội phạm nào không bị phát hiện” [80, tr. Khi một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm xảy ra, thì hoạt động TTHS với tính cách là một dạng hoạt động đặc thù của Nhà nước, do các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng áp dụng các qui định của BLTTHS lập tức được thực hiện, nhằm nhanh chóng phát hiện điều tra và xử lý tội phạm. Quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm rất quan trọng, luôn luôn đòi hỏi phải đảm bảo cả hai mặt: Trừng trị đúng tội và đúng mức nguy hiểm của người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm nhưng không làm oan người vô tội hoặc xâm phạm những lợi ích hợp pháp của công dân, cải tạo giáo dục người phạm tội thành người có ích cho xã hội.
Vì vậy, BLHS xác định rõ những hành vi nào là tội phạm, còn đối với những hành vi không bị pháp luật coi là tội phạm, thì không ai được kết tội đối với người thực hiện hành vi đó. Cùng với những qui định của BLHS, việc phát hiện xử lý các tội phạm còn phải được tiến hành theo những thủ tục và trình tự do Bộ luật TTHS qui định, trong đó hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự với tư cách là một giai đoạn của quá trình chứng minh vụ án hình sự đóng một vai trò hết sức quan trọng và quyết định tính đúng đắn của toàn bộ quá trình này nên đòi hỏi cần có sự tuân thủ nghiêm ngặt nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giải quyết đúng đắn VAHS. Chứng minh trong giai đoạn xét xử VAHS thông thường bắt đầu từ sau khi có quyết định truy tố bằng bản cáo trạng của Viện kiểm sát và kết thúc bằng bản án tuyên bố hành vi của một cá nhân (pháp nhân)nào đó là tội phạm hoặc không phạm tội. Khác với hoạt động điều tra và truy tố, hoạt động xét xử do Tòa án tiến hành là hoạt động mang tính quyết định cuối cùng nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và áp dụng các hình phạt tương ứng theo qui định trong BLHS.
Hoạt động xét xử bao gồm các hành vi tố tụng cụ thể như: xét hỏi bị cáo, 8 hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác, xem xét vật chứng, tranh luận tại phiên tòa, nghị án, tuyên án… Tất cả các hành vi tố tụng cụ thể đó nhằm đến mục đích cuối cùng và cao nhất đó là chứng minh chân lý khách quan của VAHS. Là “quá trình nhận thức” về VAHS, hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử nhằm chứng minh chân lý khách quan của sự kiện phạm tội; tính có lỗi hay không có lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác liên quan đến việc thực hiện hành vi đó. Mục đích của hoạt động chứng minh này nhằm khẳng định trách nhiệm pháp lý mà người thực hiện hành vi phạm tội phải gánh chịu hoặc khẳng định ngược lại nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội đó không phải là tội phạm và bị cáo không có lỗi. Hoạt động chứng minh là xác định sự thật khách quan của VAHS, là một quá trình nhận thức cái chưa biết, đi từ chưa biết đến biết, một quá trình tuân theo các quy luật của phép duy vật biện chứng.
Quá trình này là một quá trình nhận thức chân lý, một quá trình phản ánh biện chứng các sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất vào trong ý thức con người, trên cơ sở thực tiễn. Trên cơ sở những qui định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản pháp luật khác hướng dẫn về hoạt động xét xử và thực tiễn của hoạt động xét xử có thể hiểu: Chứng minh trong giai đoạn xét xử VAHS là quá trình mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động nhận thức chân lý về VAHS thông qua việc xét xử và tranh tụng công khai tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Việc nhận thức về VAHS là việc phản ánh một cách khách quan toàn bộ diễn biến về vụ án, hay nói cách khác là tái dựng lại được một bức tranh toàn cảnh, chính xác về VAHS đã xảy ra. Để đạt được điều này, các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng tại phiên tòa phải thực hiện các biện pháp do pháp luật TTHS quy định, làm sáng tỏ tất cả mọi vấn đề có liên quan đến vụ án.
Việc nghiên cứu các sự kiện, tình tiết của vụ án được tiến 9 hành dựa trên cơ sở chứng cứ, chỉ có dựa vào chứng cứ thì mới làm sáng tỏ được tội phạm, chỉ rõ được người thực hiện hành vi phạm tội, chỉ có dựa vào chứng cứ thì người tiến hành tố tụng mới có căn cứ để đưa ra kết luận của mình về tội phạm, về tính có lỗi, tính phải chịu hình phạt của bị cáo và những vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết VAHS. Chứng minh trong giai đoạn xét xử là hoạt động nhận thức về VAHS được các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chân lý khách quan của vụ án. Tức là xác định sự phù hợp đầy đủ, chính xác của sự kiện phạm tội và tất cả các tình tiết khác của vụ án để làm rõ mức độ trách nhiệm của người đã thực hiện hành vi phạm tội, làm căn cứ áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp hoặc khẳng định ngược lại là tội phạm không được thực hiện trong thực tế, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có lỗi. Việc nhận thức chân lý khách quan của VAHS là một quá trình hết sức phức tạp được tạo bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện phù hợp với các qui định của BLTTHS Việt Nam.
Trong đó, ở giai đoạn xét xử, hoạt động kiểm tra và đánh giá chứng cứ là quan trọng nhất, thể hiện rõ nét nhất và được thừa nhận là một quá trình nhận thức chân lý khách quan của vụ án. Vì vậy chứng minh trong giai đoạn xét xử cũng phải tuân thủ những qui luật chung của quá trình nhận thức hiện thực khách quan mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”. Như vậy, xuất phát từ sự thừa nhận khả năng nhận thức của con người, phép biện chứng duy vật đòi hỏi việc nhận thức, việc nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan nói chung và các tình tiết của VAHS nói riêng phải đảm bảo một cách toàn diện. Hoạt động chứng minh VAHS trong giai đoạn xét xử phải tuân theo những quy tắc lôgic nhất định như việc nhận thức mọi hiện 10 tượng của hiện thực.
Trước tiên cần phải phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra do cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập, làm sáng tỏ từng chi tiết cụ thể, từng mặt của các sự kiện cần được nghiên cứu xem xét; sau đó sẽ rút ra được những kết luận khái quát tổng hợp về các sự kiện đã được nghiên cứu. Trên cơ sở các sự kiện đã được xem xét xây dựng nên những giả thiết chứng minh, rồi sau đó kiểm tra, đánh giá thận trọng, tỉ mỉ, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, từ những thông tin, sự kiện riêng lẻ đến những sự kiện chung nhất và cả bằng tư duy suy diễn, từ đó đi đến những kết luận cụ thể đối với các sự kiện, tình tiết cụ thể và các dấu hiệu của nó.