chương I của BLTTDS Pháp về chứng cứ có quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự và các chủ thể khác có liên quan. Tuy nhiên, trong Bộ luật này lại không có bất kỳ khái niệm nào về chứng cứ12. Hay tương tự vậy, trong Bộ luật TTDS Nhật Bản cũng không có định nghĩa cụ thể như thế nào là chứng cứ mà chỉ tập trung nhấn mạnh 10 Nguyên văn: evidence is something (including testimony, documents and tangible objects) that tends to prove or disprove the existence of an alleged fact. Garner, editor in chief(2014), Black's Law Dictionary.
Paul, MN :Thomson Reuters,Tr. 11 Vương Văn Bép (2011), Khái niệm chứng cứ trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 và hướng sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27, trang 50. 12 Điều 9- Điều 12 BLTTDS Pháp năm 2007. 14 quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sử dụng chứng cứ nhằm chứng minh sự thật khách quan của vụ án13.
Tuy nhiên, một số quốc gia lại rất coi trọng về chứng cứ và quy định rất chi tiết về chứng cứ. Ví dụ như trong Bộ luật Tố tụng dân sự của Trung Quốc thì quy định rất cụ thể về chứng cứ theo hướng liệt kê. Cụ thể, chứng cứ bao gồm: Tài liệu, vật chứng, bản ghi âm, ghi hình, lời khai của người làm chứng, lời khai của các bên liên quan, kết luận của chuyên gia làm chứng và bản kiểm tra giám định. Đồng thời, BLTTDS Trung Quốc cũng quy định những chứng cứ trên bắt buộc phải được xác nhận trước khi trở thành chứng cứ để tìm ra sự thật khách quan của vụ án14.
Hay theo pháp luật Nga thì quy định rất cụ thể về chứng cứ, vừa theo hướng định nghĩa chung, lại vừa theo hướng liệt kê cụ thể. Theo đó, thông tin “được xem là chứng cứ của vụ án sẽ là nếu được thu thập theo đúng quy định pháp luật, dùng để xác định sự tồn tại hoặc không tồn tại của các sự kiện cần phải chứng minh đối với các yêu cầu và phản đối của các bên, cũng như các tình tiết có tầm quan trọng khác để xem xét và giải quyết chính xác vụ án. Do vậy, những thông tin này có thể được lấy từ lời khai của các bên và người thứ ba, từ lời khai của các nhân chứng, từ tài liệu, bản ghi âm và ghi hình và từ kết luận của chuyên gia. Đồng thời, nếu những thông tin này thu thập không đúng theo quy định pháp luật thì sẽ không được coi là chứng cứ và Tòa án sẽ không được quyền xét xử dựa trên những thông tin ấy15.
13 Chương IV- BLTTDS Nhật bản năm 1996. 14 Điều 63 BLTTDS Trung Quốc năm 1991. Nguyên văn: Evidence shall be classified as follows: (1)documentary evidence; (2)physical evidence; (3)audio and visual material; (4)testimony of witnesses; (5)statements of involving parties; (6)conclusions of expert witnesses; and (7)transcripts of inspection and examination. Any of the above-mentioned evidence must be verified before it can be taken as a basis for finding a fact.
15 Điều 55 BLTTDS Nga năm 2002. Seen as the proof of the case shall be information obtained in the legally-stipulated order, about the facts on whose grounds the court establishes the existence or absence of the facts substantiating the 15 Trong BLTTDS 2015 của Việt Nam thì khái niệm chứng cứ được ghi nhận một cách tương đối đầy đủ. Cụ thể, Điều 93 BLTTDS 2015 quy định chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Bên cạnh đó, Điều 94 BLTTDS 2015 cũng quy định chi tiết những gì có thể được coi là chứng cứ.
Tuy nhiên, luật Việt Nam không quy định đặc biệt gì về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp, mà trong thực tiễn tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận, bao gồm cả bằng chứng viết, lời khai nhân chứng, hóa đơn, chứng từ và hiển nhiên là cả sự thừa nhận của bên còn lại trong tranh chấp (nếu có). Trong khi đó, đối với pháp luật ở một số quốc gia như Pháp, tuy không có khái niệm như thế nào là chứng cứ nhưng qua quy định trong luật thì có thể thấy loại bằng chứng “nặng ký” đầu tiên được Thẩm phán chấp nhận đó là các bằng chứng viết16. Nhìn chung, các quy định trên cho thấy cách quy định về chứng cứ trong BLTTDS Việt Nam gần giống với cách quy định về vấn đề này trong pháp luật của Liên bang Nga ở chỗ khá rõ ràng và cụ thể. Điều này góp phần giúp các chủ thể có nhiều thuận tiện hơn trong việc áp dụng pháp luật về xác định, thu thập và đánh giá chứng cứ.
claims and objections of the parties, as well as of other circumstances that are of importance for the correct consideration and resolution of the case. This information may be obtained from the explanations of the parties and third persons, from the testimony of witnesses, from written and material evidence, from audio and video recordings, and from ex- pert conclusions. The proof obtained with a violation of the law shall have no legal force and the decision of the court cannot be based on them. 16 Đoàn Thị Phương Diệp (2006), Về nguyên tắc suy đoán tài sản chung trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam và luật dân sự Pháp, Tạp chí nghiên cứu khoa học, 2006:6, trang 183-184.
Vai trò của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm Chứng minh là hoạt động tố tụng dân sự cơ bản của các chủ thể tố tụng. Kết quả giải quyết các vụ án dân sự phụ thuộc phần lớn vào kết quả của hoạt động chứng minh. Chứng minh trước hết có ý nghĩa xác định, làm rõ các sự kiện, tình tiết của một vụ án, bảo đảm việc giải quyết đúng đắn vụ án đó. Xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì hoạt động chứng minh vẫn là biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của một vụ án dân sự.
Thông qua hoạt động chứng minh, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên sẽ biết rõ được các tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự đang được Tòa án giải quyết. Trên thực tế, không loại trừ trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên có thể biết được một sự kiện, tình tiết nào đó của vụ án do ngẫu nhiên. Nhưng để giải quyết đúng một vụ án dân sự, thì họ không được sử dụng những hiểu biết riêng này để làm căn cứ giải quyết vụ án, trừ trường hợp đó là những tình tiết, sự kiện mà mọi người đều biết. Để hoạt động chứng minh được thể hiện một cách khách quan, thì hoạt động này cần phải được thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục được quy định trong Chương VII của BLTTDS 2015.
Mặc dù Tòa án cũng tham gia vào hoạt động chứng minh thông qua việc tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ, tuy nhiên đây chỉ là hoạt động mang tính chất hỗ trợ cho các đương sự chứ đó không phải là trách nhiệm của Tòa án. Trách nhiệm chứng minh là trách nhiệm của các đương sự. Do đó đối với đương sự, chứng minh là vấn đề rất quan trọng nhằm làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ án, qua đó làm rõ được cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp của họ nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ. Khi tham gia tố tụng, nếu các đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thì quyền và lợi ích hợp pháp đó sẽ không được Tòa án bảo vệ.
Như vậy, hoạt động chứng minh của các đương sự không chỉ có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án một cách đúng đắn mà còn có ý nghĩa bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. 17 Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ án, bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể trong tố tụng dân sự được thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người thất rằng nó có thật, là đúng với thực tế. Nhưng để thực hiện được mục đích, các chủ thể chứng minh cần phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ án dân sự. Vai trò của hoạt động chứng minh của các đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm là khác nhau.
Tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, hoạt động chứng minh của các đương sự được thể hiện ở chỗ, các đương sự có trách nhiệm chứng minh cho Tòa án thấy rằng những yêu cầu mà mình đưa ra là có cơ sở để được chấp nhận và những đương sự khác cũng có quyền và nghĩa vụ tham gia vào quá trình chứng minh để giải quyết vụ án. Đối với những quyết định, bản án của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm bị kháng cáo, thì chỉ đương sự nào kháng cáo mới có trách nhiệm chứng minh cho Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm thấy được rằng yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở để được chấp nhận, những đương sự khác không có trách nhiệm phải tham gia vào quá trình chứng minh. Những đương sự không kháng cáo chỉ có nghĩa vụ chứng minh thông qua hoạt động cung cấp chứng cứ cho Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 287 của BLTTDS 2015. Như vậy, hoạt động chứng minh đóng vai trò quyết định trong việc giải quyết tranh chấp giữa các đương sự.
Đây là hoạt động then chốt và quan trọng bậc nhất của các chủ thể khi tham gia tố tụng tại Tòa án. Kết quả giải quyết tranh chấp của các đương sự phụ thuộc rất lớn vào kết quả của hoạt động chứng minh. Cho dù hoạt động chứng minh diễn ra tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm thì nó cũng chỉ hướng tới mục đích duy nhất là giúp Tòa án tìm ra được sự thật khách quan của vụ án dân sự, giúp cho Tòa án có cơ sở để ban hành một quyết định hoặc bản án đúng pháp luật. Quy định pháp luật về chứng minh trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 1.