Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra Thuật ngữ "chức năng" theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa là hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan, một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể" [69]. "Chức năng của Cơ quan nhà nước là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, có tính ổn định tương đối của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung của cả bộ máy nhà nước" [18].
Trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan VKSND là một mắt xích quan trọng. Trong đó, nhà nước giao cho VKS hai chức năng cơ bản là THQCT và KSHĐTP. Theo Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" [31] và Điều 23 BLTTHS quy định: Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [33]. Như vậy, VKS là cơ quan thay mặt Nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và là cơ quan giám sát của Nhà nước trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
13 z Trong tố tụng hình sự Việt Nam chưa có khái niệm quy định thế nào là "giai đoạn tố tụng".TSKH Lê Cảm: Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước của quá trình tố tụng hình sự, tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền hợp pháp của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự [3]. Trên cơ sở các quy định của BLTTHS Việt Nam thì quá trình tố tụng của nước ta trải qua các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm.
Điều tra là giai đoạn thứ 2 của quá trình tố tụng, trong đó, CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra và trên cơ sở đó quyết định: đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra, chuyển toàn bộ tài liệu chứng cứ cho VKS đề nghị truy tố người phạm tội theo tội danh nhất định được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS). Chức năng của VKS trong giai đoạn điều tra là tổng thể những biện pháp mà VKS áp dụng để chứng minh việc thực hiện tội phạm, xác định rõ nguyên nhân, điều kiện thực hiện hành vi phạm tội, động cơ, mục đích của tội phạm, lỗi của chủ thể cũng như nhân thân người phạm tội, hậu quả của tội phạm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra. Chức năng này là một phần của quyền công tố. 14 z Phạm vi thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKS trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi CQĐT hoặc cơ quan khác có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án.
Nội dung chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra 1. Thực hành quyền công tố Theo TS. Lê Hữu Thể: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, hay nói cách khác là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này là quyền của Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta từ năm 1960 đến nay là cơ quan Viện kiểm sát).
Để làm được điều này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [38]. Quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự nhân danh công quyền đối với người phạm tội nên đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội. Với quan niệm như trên về quyền công tố và đối tượng của quyền công tố, theo ý kiến của em nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm.
Hiện nay trong giới luật học của nước ta có nhiều quan điểm về phạm vi quyền công tố. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền công tố của VKS được tiến hành tại Tòa án thể hiện bằng quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án thông qua Cáo trạng, bằng việc đọc Cáo trạng tại phiên tòa, bằng lời buộc tội của KSV khi tranh luận và đề nghị kết tội với mức và loại hình phạt nhất định. Do vậy, việc điều tra vụ án được giao cho CQĐT là độc lập không liên quan đến chức năng của VKS. 15 z Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố của VKS không chỉ ở giai đoạn xét xử mà ngay từ giai đoạn điều tra.
Hoạt động điều tra vụ án hình sự được thực hiện bởi CQĐT bằng các quyết định tố tụng. Các quyết định này có thể bị VKS thay đổi hoặc hủy bỏ nếu không đúng quy định của pháp luật. Do vậy hoạt động điều tra của CQĐT là những việc làm giúp VKS thực hiện chức năng công tố. Với quan niệm quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, phạm vi của quyền này bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị.
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Các quyền năng pháp lý đó Nhà nước giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Thực tiễn hoạt động giải quyết án hình sự ở nước ta 50 năm qua cho thấy, CQĐT và Tòa án các cấp cũng khởi tố vụ án hình sự, thậm chí số vụ án do các CQĐT thực hiện việc khởi tố chiếm tới khoảng hơn 95%. Số vụ án VKS khởi tố và yêu cầu khởi tố chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số vụ án mà CQĐT khởi tố.
Tuy nhiên phải thấy rằng xét đến cùng VKS là cơ quan có vai trò quyết định trong việc khởi tố. CQĐT có quyền bắt người phạm tội, điều tra thu thập chứng cứ v. Nhưng đây thực chất chỉ là những hoạt động hỗ trợ, phục vụ cho hoạt động công tố. Trên cơ sở kết quả điều tra, lời luận tội của KSV và kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên tòa, Tòa án áp dụng pháp luật quy kết trách nhiệm đối với bị cáo.
Bản án kết tội của Tòa án cũng là sự chấp nhận lời buộc tội của VKS đối với người phạm tội. Từ những nội dung trình bày trên, có thể hiểu THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn 16 z điều tra, truy tố và xét xử. Theo đó, THQCT trong các giai đoạn điều tra là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn này. Từ định nghĩa này, có thể rút ra kết luận về một số đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố như sau: Thứ nhất, THQCT do VKS thực hiện, vì vậy nó mang tính quyền lực nhà nước và có tính mục đích: Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác.
Thứ hai, THQCT là những hoạt động phát động công tố, đó là khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Khởi tố vụ án là việc Nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai hoạt động thực hành quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện tội phạm đó. Còn khởi tố bị can là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức tuyên bố về mặt pháp lý một người nào đó có dấu hiệu phạm tội và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi quyền công tố đã được khởi động, đòi hỏi CQĐT phải tiến hành điều tra để làm rõ có tội phạm xảy ra hay không? Nếu có, ai là người phạm tội, phạm tội gì, mức độ phạm tội ?.
Thứ ba, trong giai đoạn điều tra vụ án, VKS THQCT với những nội dung cơ bản sau đây: - Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. - Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra.