Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là ngƣời chƣa thành niên Thuật ngữ “Ngƣời chƣa thành niên” là một thuật ngữ thông dụng đƣợc sử dùng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhƣ xã hội học, tâm lí học, luật học. Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam, năm 2002 đã đƣa ra khái niệm về NCTN nhƣ sau: “NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [35].
Dựa vào khái niệm này chúng ta có thể xác định đƣợc NCTN trên hai góc độ: Thứ nhất, NCTN là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ và tinh thần (đặc điểm về tâm, sinh lí). Điểm đặc trƣng của lứa tuổi này là sự phát triển chƣa đầy đủ về mặt tâm, sinh lí. NCTN là ngƣời đang ở giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chƣa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình. Đối với NCTN, do tƣ duy của họ chƣa phát triển hoàn thiện nên họ chƣa có hiểu biết đầy đủ về những khái niệm thông thƣờng trong cuộc sống hàng ngày, tính làm chủ bản thân còn thấp, khả năng tự kiềm chế chƣa cao.
Thứ hai, NCTN là ngƣời chƣa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Các yếu tố khách quan của xã hội chính là cơ sở quan trọng để phân chia độ tuổi của NCTN. Ở các quốc gia khác nhau thì các yếu tố khách quan của xã hội 8 z cũng khác nhau. Chính vì vậy, độ tuổi để phân chia NCTN và ngƣời thành niên trên thế giới là không giống nhau.
Ngày 29 - 11 – 1985, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Quy tắc Bắc Kinh và định nghĩa: “NCTN là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật. Sau đó, Những quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tƣớc quyền tự do thông qua ngày 14 - 12 - 1990 đã bổ sung: “NCTN là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được luật xác định. Theo quy định này thì phạm vi độ tuổi của NCTN đƣợc giới hạn từ 0 đến dƣới 18 tuổi [12].
Có thể nói, việc xác định độ tuổi ngƣời chƣa thành niên nhƣ thế nào cho phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan tới nhiều chính sách lớn của Nhà nƣớc trong quản lý xã hội. Trên nguyên tắc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, đảm bảo sự phù hợp với các Điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam tham gia, các văn bản pháp luật Việt Nam cũng giới hạn độ tuổi cho NCTN. “Ở Việt Nam, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công tới nay, Nhà nƣớc Việt Nam đã nhất quán xác định độ tuổi ranh giới này là 18 tuổi tròn. Nhƣ vậy độ tuổi đối với một ngƣời có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân là đủ 18 tuổi”[9, tr.
Mặc dù đều nhằm mục đích bảo vệ quyền trẻ em nhƣng do khách thể bảo vệ trong từng ngành luật khác nhau nên độ tuổi của NCTN cũng đƣợc quy định khác nhau. Đối với Luật hình sự, việc xác định một ngƣời, ở độ tuổi nào phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình gây ra có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Khoa học luật hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con ngƣời mà chủ yếu là sự phát triển về quá trình nhận thức của con ngƣời và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Tại Điều 68 BLHS Việt Nam năm 1999, đã đƣợc sửa đổi và bổ sung năm 2009 quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dƣới 18 tuổi 9 z phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chƣơng này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chƣơng này” [24].
Theo quy định trên và các quy định khác của BLHS có thể hiểu rằng: một NCTN chƣa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi trở lên nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý thì đều không phải là tội phạm. Cùng với quy định của BLTTHS năm 2015 “Bị can là ngƣời hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự” [28, Điều 60], theo chúng tôi, Bị can là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi bị khởi tố về hình sự. Thuật ngữ “Chức năng” đƣợc hiểu là “nhiệm vụ, công dụng và vai trò” [45]. “Chức năng của cơ quan Nhà nƣớc” là hoạt động chủ yếu thƣờng xuyên có tính ổn định tƣơng đối của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung của bộ máy nhà nƣớc [38].
Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 107 nhƣ sau: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [26]. Thể chế hóa quy định của Hiến pháp về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [27]. Đồng thời lần đầu tiên đƣa ra khái niệm về chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ pháp của VKSND tại Điều 3, 4 của Luật này nhƣ sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội, đƣợc thực hiện ngay từ khi giải quyết 10 z tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tƣ pháp, đƣợc thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tƣ pháp; các hoạt động tƣ pháp khác theo quy định của pháp luật [27, Điều 3-4].
Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, theo quy định của BLTTHS năm 2003, quá trình tố tụng của nƣớc ta trải qua các giai đoạn đó là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Với tƣ cách là một cơ quan pháp luật nhân danh Nhà nƣớc, trong các giai đoạn tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân đều đảm nhận hai chức năng đã nêu. Trong đó, việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn điều tra. Bởi lẽ, trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm.
Thực tiễn đã chỉ ra rằng, “có thể nói những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra” [17]. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các giai đoạn TTHS và phạm vi giai đoạn điều tra VAHS. Có quan điểm cho rằng: Điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành tố tụng hình sự, trong đó CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và ngƣời thực hiện hành vi phạm tội [18, tr. Quan 11 z điểm khác lại cho rằng: Phạm vi của kiểm sát các hoạt động tƣ pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi VAHS đƣợc khởi tố (một số trƣờng hợp có thể đƣợc tiến hành trƣớc khi khởi tố) và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tố hoặc không truy tố kẻ phạm tội ra toà, hoặc khi vụ án đƣợc đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS [30, tr.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng: Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình TTHS do Cơ quan có thẩm quyền điều tra VAHS tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm. Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn khởi tố đƣợc tiến hành trên cơ sở Quyết định khởi tố của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền. Giai đoạn điều tra đƣợc bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố và kết thúc khi CQĐT hoàn thành bản kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố ngƣời phạm tội ra trƣớc Toà án hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra [4, tr. Theo quan điểm này, điều tra là một giai đoạn tố tụng độc lập, bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc kết luận kèm theo quyết định đình chỉ điều tra.
Trong giai đoạn này, CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dƣới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng nhƣ ngƣời có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thƣờng thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.