Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu đề tài "Chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật tố tụng hình sự (mã ngành khoa học luật học). Luận án tiếp cận vấn đề theo hướng nghiên cứu kết hợp giữa phân tích lý luận pháp lý, luật học so sánh và khảo sát thực tiễn định tính kết hợp định lượng.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lý luận tố tụng hình sự (TTHS) thừa nhận ba chức năng cơ bản vận hành trong mối quan hệ biện chứng gồm: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Sự tồn tại của chức năng bào chữa là một tất yếu khách quan nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, đồng thời chống oan sai và tạo nên sự vận hành ổn định của hệ thống tư pháp.
Về mặt chủ trương chính trị - pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 về cải cách tư pháp (nhấn mạnh nâng cao chất lượng tranh tụng, mở rộng quyền của người bào chữa và người bị buộc tội), cùng Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 30/03/2009 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư. Về mặt lập pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 ra đời thay thế BLTTHS năm 2003 đã dành một chương riêng quy định về bào chữa, chỉ định người bào chữa, thủ tục đăng ký bào chữa và các quyền thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, một số quy định vẫn còn bất cập, chưa đồng bộ.
Về mặt thực tiễn, việc phân định giữa chức năng bào chữa, buộc tội và xét xử vẫn còn hiện tượng chồng chéo; nhận thức của một bộ phận người tiến hành tố tụng về vị thế bình đẳng của người bào chữa so với Kiểm sát viên chưa đầy đủ; quyền tiếp cận hồ sơ, gặp người bị tạm giam của luật sư ở các giai đoạn trước phiên tòa còn gặp nhiều cản trở. Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khoa học trong nước chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ "quyền bào chữa", "chế định người bào chữa", hoặc nghiên cứu hoạt động bào chữa trong phạm vi hẹp ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Ở cấp độ luận án tiến sĩ, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu rộng và có hệ thống về chức năng bào chữa dưới lăng kính lý thuyết chức năng luận trong bối cảnh thi hành BLTTHS năm 2015.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện chức năng bào chữa trong TTHS Việt Nam, luận án đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện chức năng bào chữa trên thực tế.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về chức năng bào chữa trong TTHS: cơ sở hình thành, khái niệm, đặc điểm, vai trò, hình thức thực hiện và mối quan hệ giữa chức năng bào chữa với chức năng buộc tội và chức năng xét xử.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật TTHS Việt Nam qua các thời kỳ và thực tiễn thực hiện chức năng bào chữa của người bào chữa và người bị buộc tội trong các giai đoạn tố tụng.
- Đề xuất các quan điểm, kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện quy định pháp luật và các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm hiệu quả thực hiện chức năng bào chữa trong TTHS Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về chức năng bào chữa trong TTHS (khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa, nội dung, cơ sở hình thành); hệ thống quy định pháp luật TTHS Việt Nam liên quan trực tiếp đến chức năng bào chữa; thực tiễn thực hiện chức năng bào chữa thông qua số liệu thống kê, hồ sơ vụ án điển hình và kết quả khảo sát thực tế.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về chức năng bào chữa, đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp bảo đảm thực hiện.
- Phạm vi thời gian: Quy định pháp luật được khảo cứu qua các giai đoạn lịch sử lập pháp (trước BLTTHS 1988, BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015). Dữ liệu thực tiễn được tập trung khảo sát trong giai đoạn 10 năm (từ năm 2009 đến năm 2019), có sự đối chiếu, so sánh giữa việc thi hành BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tiễn trên phạm vi toàn quốc dựa trên báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Liên đoàn Luật sư Việt Nam; kết hợp khảo sát trực tiếp tại TP. Hà Nội, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh. Luận án không nghiên cứu việc thực hiện chức năng bào chữa trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp trong quân đội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến mô hình tố tụng, quyền con người và vai trò của luật sư:
- Về hệ thống pháp luật và mô hình tố tụng: Rene David và John E.Brierly (1978, Major legal systems in world today) phân loại 4 nhóm hệ thống pháp luật; Jean-Phillipe Rivaud (2000, Những mô hình tố tụng hình sự trên thế giới) phân tích, so sánh các mô hình tố tụng và khẳng định quyền có người bào chữa, quyền im lặng; Phillip Reichel (1999, Tư pháp hình sự so sánh) so sánh mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm và mô hình tố tụng công bằng; James Claude và Joseph Daly (1994) so sánh hệ thống pháp luật Mỹ và Pháp; Báo cáo của Liên hợp quốc (2010) về tổ chức tư pháp tại Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga.
- Về chức năng tố tụng và vai trò người bào chữa: Peter A Renella (2010, Rethinking the functions of criminal Procedure) khẳng định sự tồn tại của 3 chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa, xét xử); Roberta K. (The role of the defense attorney: not just an advocate); Adam Paker (2008, Basic principles on the role of lawyers); Tài liệu của Đoàn luật sư Hoa Kỳ (ABA, Defense function); Donald J. (2009); Samuel Dash (1969, The emerging Role and Function of the Criminal defense lawyer); Xiong Qiuhong (2005, Lawyer Defence in the Pre-Trial Proceedings - Viện Khoa học xã hội Trung Quốc).
- Về chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền bào chữa: Điều 14 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR); Stephanos Stavros (1993, phân tích Điều 6 Công ước châu Âu về Nhân quyền); Nhóm tác giả Đại học Melbourne (2001, Criminal process and human rights); Rolando V. del Carmen (Criminal procedure – law and practice); Ian Brownlie và Guy S. Goodwin-Gill (2010, Brownlie’s document on human rights); Burger (2001); Christoph Safferling (2003, Toward an international criminal procedure); Melvin Urofsky (2010, Rights of the people: Individual freedom and bills of rights); Báo cáo của tổ chức Human Rights in China (HRIC).
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Nhóm nghiên cứu về chức năng TTHS và mô hình tố tụng: Đề án "Mô hình TTHS Việt Nam" do VKSNDTC chủ trì (2010); TS. Lê Hữu Thể và ThS. Nguyễn Thị Thủy (bài viết về hoàn thiện mô hình TTHS theo yêu cầu cải cách tư pháp); PGS.TS Nguyễn Thái Phúc (2015, nghiên cứu về các chức năng TTHS và mô hình TTHS); TS. Đinh Thị Mai (2015, 2016, đề tài cấp bộ về lý thuyết chức năng luận áp dụng trong TTHS); Nguyễn Mạnh Hùng (Luận án Tiến sĩ, 2012, nghiên cứu về ba chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử); Hà An (phân định ba chức năng cơ bản); TS. Lê Tiến Châu (Luận án Tiến sĩ, 2008, nghiên cứu chức năng xét xử).
- Nhóm nghiên cứu về quyền con người, quyền bào chữa và nguyên tắc tranh tụng: GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên các công trình năm 2010, 2011 về quyền con người và cơ chế bảo đảm); PGS. Lại Văn Trình (Luận án Tiến sĩ, 2011, về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo); GS.TSKH Lê Cảm (2004, 2011, về nguyên tắc tranh tụng và bảo vệ quyền con người); Hoàng Thị Sơn (2003, bài báo và Luận án Tiến sĩ về quyền bào chữa); PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn (2015); PGS.TS Phạm Hồng Hải (1999, chuyên khảo Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội); Báo cáo của UNDP (2010, về quyền bào chữa tại Việt Nam); Nguyễn Hữu Thế Trạch (Luận án Tiến sĩ, 2014, về quyền bào chữa của người chưa thành niên); Lương Thị Mỹ Quỳnh (Luận án Tiến sĩ, 2011, so sánh luật Việt Nam, Đức, Mỹ); Đặng Trần Thanh Ngọc (Luận án Tiến sĩ, 2014, về thực hiện quyền bào chữa); Nguyễn Văn Hiển (Luận án Tiến sĩ, 2010, về nguyên tắc tranh tụng); TS. Nguyễn Văn Tuân (2001, 2010); TS. Nguyễn Văn Huyên (2003); Lưu Bình Dương (Luận văn Thạc sĩ, 2004).
- Nhóm nghiên cứu về người bào chữa và hoạt động bào chữa: Trần Hoài Lâm / Trần Hoàng Lâm (Luận văn Thạc sĩ, 2006/2007); Phan Văn Hòa (Luận văn Thạc sĩ, 2012); Nguyễn Văn Phương (Luận văn Thạc sĩ, 2014); Lê Trung Sơn (Luận văn Thạc sĩ, 2015); Ngô Thị Ngọc Vân (Luận án Tiến sĩ, 2015, về hoạt động bào chữa của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét bào chữa là một "quyền" của người bị buộc tội, hoặc khảo sát hoạt động của luật sư trong phạm vi hẹp (giai đoạn xét xử sơ thẩm), phần lớn được triển khai dưới thời kỳ BLTTHS 1988 hoặc BLTTHS 2003. Luận án này giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách tiếp cận bào chữa ở cấp độ vĩ mô là một "chức năng cơ bản" của TTHS dựa trên nền tảng lý thuyết chức năng luận; phân định rành mạch giữa chức năng bào chữa với quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa; đồng thời khảo cứu toàn diện thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2015 trong giai đoạn 10 năm (2009–2019) bằng phương pháp kết hợp định tính và định lượng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết chức năng luận (Functionalism): Được vận dụng để giải thích cấu trúc và sự vận hành của hệ thống TTHS. Hệ thống TTHS bao gồm các chức năng cơ bản có tính độc lập tương đối, bổ trợ và đối trọng lẫn nhau nhằm đảm bảo sự cân bằng quyền lực và thực hiện mục tiêu tìm ra sự thật khách quan.
- Lý thuyết chức năng của pháp luật: Vận dụng quan điểm lý luận về chức năng bảo vệ của pháp luật (thể hiện qua ba dạng: biện pháp bảo đảm, biện pháp bảo vệ và biện pháp phục hồi theo nghiên cứu của GS.TS Võ Khánh Vinh). Chức năng bào chữa thuộc nhóm chức năng bảo vệ, xuất hiện nhằm bảo vệ chủ thể yếu thế trước quyền lực công quyền của Nhà nước.
- Khung phân loại chức năng TTHS: Luận án khẳng định trong TTHS chỉ tồn tại 03 chức năng cơ bản là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Các hoạt động khác như điều tra (thuộc nội hàm của chức năng buộc tội), kiểm sát việc tuân theo pháp luật (chức năng hiến định giám sát tư pháp mang tính nhà nước), hay giải quyết phần dân sự (chức năng không cơ bản, phái sinh) không tạo thành các chức năng TTHS cơ bản độc lập.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 để phân tích các tài liệu, khái quát hóa các khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, cơ sở hình thành và nội dung của chức năng bào chữa.
- Phương pháp luật học so sánh: Phân tích đối chiếu quy định về chức năng bào chữa và vai trò của luật sư giữa pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (ICCPR) và pháp luật của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc).
- Phương pháp lịch sử pháp lý: Phân tích tiến trình lập pháp TTHS Việt Nam qua 4 thời kỳ: trước BLTTHS 1988, giai đoạn BLTTHS 1988, giai đoạn BLTTHS 2003 và giai đoạn BLTTHS 2015.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu: Sử dụng tại Chương 3 để lượng hóa tình hình tham gia tố tụng của người bào chữa, tỷ lệ án chỉ định, án có người bào chữa tham gia giai đoạn 2009–2019.
- Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu: Sử dụng bảng hỏi khảo sát đối với các luật sư đang hành nghề tại TP. Hà Nội, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh; thực hiện phỏng vấn sâu các luật sư để đánh giá những vướng mắc cụ thể khi thực hiện các quyền mới theo BLTTHS 2015.
- Phương pháp dự báo: Sử dụng tại Chương 4 để đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản pháp lý: Hiến pháp, BLTTHS năm 1988, 2003, 2015; Luật Luật sư; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 08/NQ-TW, Nghị quyết 49/NQ-TW, Chỉ thị 33/CT-TW).
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác của TANDTC, VKSNDTC, Liên đoàn Luật sư Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2019; số liệu khảo sát xã hội học và biên bản phỏng vấn sâu luật sư tại các địa phương khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Danh mục bảng và biểu đồ được tác giả sử dụng trong phân tích thực tiễn tại Chương 3:
| Ký hiệu |
Tên bảng / Biểu đồ trong luận án |
| Bảng 3.1 |
Số vụ án có NBC tham gia ở giai đoạn xét xử sơ thẩm |
| Bảng 3.2 |
Số vụ án luật sư được mời và chỉ định tham gia bào chữa trong quá trình tham gia giải quyết vụ án (trang 98) |
| Biểu đồ 3.1 |
Số vụ án luật sư tham gia bào chữa theo yêu cầu của cơ quan THTT từ năm 2013 đến 2018 |
| Biểu đồ 3.2 |
Số luật sư trên toàn quốc từ năm 2013 đến 2018 |
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ba nhóm vấn đề: lý luận về các chức năng TTHS và mô hình tố tụng; quyền con người, quyền bào chữa của người bị buộc tội; vai trò và địa vị pháp lý của người bào chữa. Tác giả chỉ rõ các công trình trước đây đã làm rõ từng khía cạnh riêng lẻ của quyền bào chữa hoặc hoạt động của luật sư trong một giai đoạn tố tụng nhất định. Trên cơ sở xác định khoảng trống nghiên cứu, tác giả xây dựng câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (trang 30) nhằm định hướng cho toàn bộ luận án, khẳng định việc nghiên cứu toàn diện chức năng bào chữa theo lý thuyết chức năng luận là yêu cầu cấp thiết của khoa học luật TTHS.
Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Chương 2 làm rõ nền tảng lý luận về chức năng bào chữa:
- Cơ sở hình thành: Sự xuất hiện của chức năng bào chữa là tất yếu khách quan, bắt nguồn từ bản chất dân chủ, nhân văn của chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền con người, cân bằng với quyền lực tư pháp công quyền, bảo đảm xác định sự thật khách quan và chống oan sai. Ở đâu có sự buộc tội thì ở đó tất yếu phát sinh chức năng bào chữa.
- Phân loại chức năng TTHS: Luận án phản bác quan điểm coi "điều tra", "kiểm sát tuân theo pháp luật", "kiện tụng dân sự" là các chức năng cơ bản độc lập. Tác giả chứng minh: hoạt động điều tra là một bộ phận cấu thành của chức năng buộc tội; kiểm sát tuân theo pháp luật là chức năng hiến định giám sát nhà nước; giải quyết vấn đề dân sự là chức năng phái sinh không cơ bản. Do đó, TTHS chỉ có ba chức năng cơ bản: buộc tội, bào chữa, xét xử.
- Định nghĩa chức năng bào chữa: Tác giả đưa ra khái niệm hoàn chỉnh: "Chức năng bào chữa là những phương diện hoạt động mang tính định hướng lớn, cơ bản của tố tụng hình sự được pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho bên bị buộc tội khả năng đưa ra chứng cứ và lý lẽ chống lại sự buộc tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, pháp nhân thương mại phạm tội, giúp vụ án được giải quyết khách quan, toàn diện và đầy đủ".
- Phân biệt với các khái niệm liên quan:
- Với quyền bào chữa: Quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị buộc tội; trong khi chủ thể thực hiện chức năng bào chữa rộng hơn, bao gồm người bị buộc tội, người bào chữa và người đại diện hợp pháp của họ.
- Với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa: Nguyên tắc là công cụ, định hướng chung; còn chức năng bào chữa xác định rõ chủ thể, thẩm quyền và trình tự thực hiện các hoạt động gỡ tội cụ thể.
- Đặc điểm, vai trò và mối quan hệ chức năng: Chức năng bào chữa có vị thế độc lập tương đối, giữ vai trò phản biện, đối trọng trực tiếp với chức năng buộc tội và hỗ trợ chức năng xét xử đưa ra phán quyết khách quan. Chương này cũng phân tích các hình thức thực hiện chức năng bào chữa, chức năng bào chữa trong các mô hình tố tụng (thẩm vấn, tranh tụng, hỗn hợp) và các yếu tố kinh tế, chính trị, nhận thức tác động đến hiệu quả thực hiện chức năng này.
Chƣơng 3: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THỂ HIỆN CHỨC NĂNG BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
Chương 3 phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành:
- Lịch sử pháp luật và kinh nghiệm quốc tế: Đánh giá sự phát triển các quy định thể hiện chức năng bào chữa qua các bản Sắc lệnh thời kỳ đầu lập quốc, BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 đến BLTTHS 2015; rút ra bài học kinh nghiệm từ pháp luật một số nước.
- Thực tiễn thực hiện của người bào chữa: Đánh giá tình hình người bào chữa và người bị buộc tội tham gia tố tụng qua các số liệu thống kê (Bảng 3.1, Bảng 3.2, Biểu đồ 3.1, Biểu đồ 3.2). Phân tích chi tiết hoạt động của luật sư trong từng giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố (gặp bị can, thu thập tài liệu, tham gia hỏi cung) và giai đoạn xét xử sơ thẩm (tranh tụng, đối đáp tại phiên tòa).
- Thực tiễn thực hiện của người bị buộc tội: Đánh giá việc tự thực hiện quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị can, bị cáo.
- Bất cập và nguyên nhân hạn chế: Chỉ ra các rào cản thực tế như thủ tục đăng ký bào chữa còn bị kéo dài; quyền thu thập chứng cứ của luật sư gặp khó khăn; việc tạo điều kiện của cơ quan tiến hành tố tụng ở giai đoạn điều tra còn hạn chế; số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư phân bổ không đồng đều. Nguyên nhân bao gồm cả yếu tố nhận thức chủ quan của cán bộ tiến hành tố tụng, trình độ của người bào chữa và những điểm chưa đồng bộ trong quy định pháp luật.
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CHỨC NĂNG BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chương 4 đưa ra phương hướng và giải pháp cụ thể:
- Hệ thống quan điểm: Đảm bảo thể chế hóa quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính độc lập, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa; tăng cường tính dân chủ, tranh tụng và hội nhập quốc tế.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong BLTTHS năm 2015 về: đơn giản hóa thủ tục đăng ký bào chữa; cơ chế bảo đảm quyền thu thập, đánh giá và giao nộp chứng cứ của người bào chữa; quy định rõ ràng trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong việc thông báo và tạo điều kiện cho luật sư tiếp cận hồ sơ, tiếp xúc thân chủ; mở rộng diện chỉ định người bào chữa.
- Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện: Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng về vai trò bình đẳng của người bào chữa; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng tranh tụng cho đội ngũ luật sư; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam với các cơ quan tư pháp; giải pháp bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động trợ giúp pháp lý và bào chữa chỉ định.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Vận dụng thành công lý thuyết chức năng luận để luận giải toàn diện về chức năng bào chữa trong TTHS, xác định rõ cơ sở hình thành, khái niệm, đặc điểm, nội dung và các hình thức thực hiện chức năng bào chữa.
- Luận giải sâu sắc tính độc lập tương đối và mối quan hệ biện chứng giữa ba chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử); chứng minh rõ ràng hoạt động điều tra thuộc chức năng buộc tội, kiểm sát tuân theo pháp luật là chức năng giám sát hiến định, từ đó bác bỏ các quan điểm phân chia chức năng TTHS phân tán.
- Phân định rành mạch giữa khái niệm "chức năng bào chữa", "quyền bào chữa" và "nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa"; xác định rõ chủ thể thực hiện chức năng bào chữa bao gồm cả người bị buộc tội, người bào chữa, người đại diện hợp pháp và áp dụng đối với cả pháp nhân thương mại phạm tội.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện về thực tiễn thực hiện chức năng bào chữa tại Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2009–2019), so sánh cụ thể giữa giai đoạn thi hành BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015.
- Đánh giá thực chất việc thực hiện các quyền mới của người bào chữa theo BLTTHS 2015 trên cơ sở kết hợp dữ liệu thống kê toàn quốc và kết quả điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu luật sư tại TP. Hà Nội, Bắc Giang và Bắc Ninh; chỉ rõ các điểm nghẽn trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp nhằm sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 nhằm tháo gỡ rào cản về thủ tục đăng ký bào chữa, quyền thu thập chứng cứ và quyền tham gia các hoạt động tố tụng trước phiên tòa của người bào chữa.
- Đề xuất nhóm giải pháp tổ chức thực hiện đồng bộ gồm giải pháp về con người (đào tạo cán bộ tư pháp và luật sư), giải pháp kinh tế - chính trị - xã hội và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các tổ chức hành nghề luật sư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế trực tiếp bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu mới tập trung tại 03 địa phương (TP. Hà Nội, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh); chưa tiến hành khảo sát hoạt động thực hiện chức năng bào chữa trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng thuộc quân đội do phạm vi giới hạn của đề tài.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá toàn diện hiệu quả áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015 về chức năng bào chữa trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo; mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo đảm chức năng bào chữa cho các đối tượng đặc thù và trong các thủ tục tố tụng rút gọn, tố tụng đối với pháp nhân thương mại.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Công trình là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học Luật Tố tụng hình sự, Luật Hình sự, Khoa học Điều tra hình sự và Tội phạm học cho học viên, nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạo luật.
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực tiễn tin cậy để Quốc hội, TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.
- Đối với Liên đoàn Luật sư và giới luật sư: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện kỹ năng hành nghề, nhận thức đúng về vị thế pháp lý của người bào chữa trong quá trình tranh tụng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự như thế nào?
Luận án định nghĩa: Chức năng bào chữa là những phương diện hoạt động mang tính định hướng lớn, cơ bản của tố tụng hình sự được pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho bên bị buộc tội khả năng đưa ra chứng cứ và lý lẽ chống lại sự buộc tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, pháp nhân thương mại phạm tội, giúp vụ án được giải quyết khách quan, toàn diện và đầy đủ.
2. Sự khác biệt cốt lõi giữa "chức năng bào chữa" và "quyền bào chữa" theo luận án là gì?
Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền năng tố tụng chỉ thuộc về duy nhất người bị buộc tội. Trong khi đó, chức năng bào chữa là phương diện hoạt động tố tụng có phạm vi rộng hơn, với chủ thể thực hiện bao gồm cả người bị buộc tội, người bào chữa (luật sư, trợ giúp viên pháp lý...) và người đại diện hợp pháp của họ.
3. Vì sao tác giả không xem "chức năng điều tra" và "chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật" là các chức năng cơ bản của TTHS?
Tác giả lập luận rằng hoạt động điều tra chỉ là một bộ phận cấu thành nhằm phục vụ cho sự buộc tội, không thể tách rời khỏi chức năng buộc tội. Đối với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đây là chức năng hiến định về giám sát tư pháp chung của Nhà nước, mang tính quyền lực công, không phải là một chức năng tố tụng cục bộ cơ bản phát sinh từ cấu trúc tranh biện nội tại của TTHS.
4. Phạm vi thời gian và địa bàn khảo sát thực tế của luận án được xác định như thế nào?
Thực tiễn thực hiện chức năng bào chữa được nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm từ 2009 đến 2019 (đối chiếu giữa BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015). Về không gian, luận án thu thập số liệu toàn quốc từ TANDTC, VKSNDTC, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn sâu trực tiếp tại TP. Hà Nội, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh (không khảo sát trong quân đội).
5. Những giai đoạn lịch sử lập pháp TTHS nào được luận án phân tích?
Luận án phân tích 04 giai đoạn lịch sử lập pháp của Việt Nam: giai đoạn trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời (từ sau năm 1945), giai đoạn thi hành BLTTHS năm 1988, giai đoạn thi hành BLTTHS năm 2003 và giai đoạn thi hành BLTTHS năm 2015.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam" là công trình nghiên cứu khoa học chuyên khảo, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cốt lõi về chức năng bào chữa dựa trên nền tảng lý thuyết chức năng luận. Bằng phương pháp kết hợp phân tích văn bản pháp luật, luật học so sánh và khảo sát thực chứng trong giai đoạn 2009–2019, luận án đã đánh giá toàn diện thực trạng thi hành BLTTHS năm 2015, chỉ rõ các vướng mắc của người bào chữa trong thực tế. Hệ thống quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.