Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUẨN TIẾP CẬN PHÁP LUẬT CẤP XÃ 1. Khái quát về tiếp cận pháp luật 1. Khái niệm về tiếp cận pháp luật Pháp luật là một lĩnh vực rất quan trọng và phức tạp. Tiếp cận pháp luật có thể là một bước quan trọng để hiểu rõ quy định, quyền lợi, và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội.
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [5] và “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình…” [5]. Qua đó, mọi công dân đều được bình đẳng và có quyền tiếp cận thông tin, tiếp cận pháp luật trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo nghĩa Hán - Việt, “tiếp cận” là làm cho một cái gì đó “gần sát nhau” hơn với một cái khác, trong đó thuật ngữ “tiếp” được giải thích là “nối lại, hợp lại, nhận lấy, giáp với, liền với”, còn “cận” có nghĩa là gần [20]. Có thể hiểu thuật ngữ tiếp có nghĩa là việc tiếp tục hoặc tiếp xúc với một vấn đề, một đối tượng hoặc một lĩnh vực nào đó để nắm bắt, tìm hiểu hoặc giải quyết vấn đề đó.
Đây là quá trình theo dõi, nắm bắt hoặc thực hiện một vấn đề cụ thể thông qua việc nghiên cứu hoặc tham gia vào đối tượng đó. Trong một ngữ cảnh khác, tiếp cận cũng có thể ám chỉ việc đến gần hoặc tiếp cận một cái gì đó về khoảng cách vật lý hoặc tư duy. Hơn thế, tiếp cận còn được hiểu là quá trình tương tác giữa chủ thể này với chủ thể khác, hoặc giữa các nhóm, tổ chức, cá nhân khác nhau. Đây là quá trình hoặc phương pháp mà một chủ thể (như một tổ chức, cơ quan, cá nhân) sử dụng để tiếp cận, tương tác hoặc làm việc với các chủ thể khác.
9 Đối với khái niệm pháp luật, xét ở góc độ bản chất, pháp luật được xem là các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Hay có thể nói pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích giữ gìn trật tự và ổn định xã hội [17]. Trong quá trình tiếp cận pháp luật, không chỉ hình thành tri thức hiểu biết về pháp luật mà còn hình thành nhiều yếu tố khác như ý thức về pháp luật, tâm lý về pháp luật, tình cảm pháp luật, hành vi pháp luật và đời sống pháp luật. Từ đó, chủ thể có thể chủ động hơn trong việc tham gia vào các quan hệ xã hội một cách tích cực và có hiệu quả hơn.
Không chỉ vậy, chủ thể còn được vận dụng sự hiểu biết, tri thức về pháp luật áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội. Trong thời đại của sự hội nhập kinh tế toàn cầu, khái niệm tiếp cận pháp luật đã trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Đây là một thuật ngữ mới mẻ, phản ánh sự cần thiết của việc hiểu biết và tuân thủ các quy định pháp luật trong môi trường pháp lý ngày càng đa dạng và phức tạp. Từ góc độ ngôn ngữ, tiếp cận pháp luật không chỉ đơn giản là việc đọc và hiểu các quy định pháp luật một cách cơ bản, mà còn là quá trình sâu rộng hơn, ở đó chủ thể pháp luật tiếp tục nghiên cứu, và áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn.
Điều này sẽ giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về những hành vi được cho phép, những hành vi bị cấm, cũng như những hành vi có thể gây ra hậu quả pháp lý. Nói cách khác, tiếp cận pháp luật được hiểu là quá trình nhận thức về pháp luật nhằm hình thành và phát triển tri thức pháp luật ở mỗi cá nhân, giúp cá nhân hiểu biết và nhận thức đúng đắn về pháp luật, đồng thời đảm bảo đáp ứng và nâng 10 cao nhận thức pháp luật. Điều này giúp bảo vệ và thúc đẩy quyền, lợi ích hợp pháp của công dân tại cơ sở, cũng như tăng cường vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, đóng góp vào mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nội dung tiếp cận pháp luật Từ góc độ phương pháp luận, nội dung được xem như một phạm trù bao gồm tất cả các khía cạnh, yếu tố và quá trình tạo ra một sự vật.
Với cách tiếp cận này, nội dung của tiếp cận pháp luật là sự tổng hợp của các mặt, các yếu tố và các quá trình liên quan đến tiếp cận pháp luật, bao gồm những điều sau: Thứ nhất, quá trình nắm bắt, tìm hiểu, nhận thức về pháp luật và thực tiễn đời sống pháp lý (sự vận hành của pháp luật trong thực tiễn). Quá trình nhận thức pháp luật bao hàm nhiều vấn đề hợp thành như kiến thức hiểu biết cơ bản về pháp luật; những vấn đề nảy sinh trong mối liên hệ với pháp luật hiện hành; những yêu cầu mang tính chế ước của pháp luật và những vấn đề trong mối quan hệ của việc vận dụng những mệnh lệnh mang tính pháp luật [14]. Thông qua quá trình nhận thức đó, giúp các chủ thể hình thành tri thức hiểu biết về pháp luật một cách hệ thống, toàn diện (bao gồm tri thức hiểu biết về các quy định cụ thể của hệ thống pháp luật thực định được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật và tri thức hiểu biết cơ bản về Nhà nước và pháp luật) [18]. Quá trình nhận thức này tuân theo quy luật từ biết ít đến biết nhiều, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ các phần nhỏ lẻ đến cái nhìn tổng thể và có hệ thống (bao gồm quá khứ, hiện tại và tương lai) để hiểu rõ quy luật vận động, phát triển và biến đổi của các hiện tượng nhà nước và pháp luật, cũng như các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
Thứ hai, quá trình vận dụng kiến thức, tri thức hiểu biết về pháp luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong từng sự kiện, hoàn cảnh, tình huống pháp 11 lý cụ thể cũng như quá trình vận dụng, sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể pháp luật [14]. Đây là quá trình chuyển đổi tri thức về pháp luật thành hành vi pháp luật cụ thể của con người khi tham gia vào các quan hệ xã hội, khẳng định vị thế, vai trò và ý nghĩa của con người trước Nhà nước, xã hội và các đối tượng khác. Thông qua quá trình này, con người nhận thức và hiểu rõ về các hành vi hợp pháp, tích cực được xã hội chấp nhận và ủng hộ, cũng như các hành vi bất hợp pháp, tiêu cực bị xã hội lên án và phê phán. Quá trình này không chỉ giúp con người nhận thức rõ hành vi của bản thân mà còn nhận thức hành vi của người khác; thấy được các quy tắc và chuẩn mực hành vi để từ đó chọn lựa cách ứng xử phù hợp, tích cực nhất, không xâm phạm đến quyền lợi của người khác, đồng thời tham gia duy trì và củng cố trật tự chung, quản lý Nhà nước và xã hội.
Nói cách khác, đây là quá trình giải quyết những vấn đề phát sinh trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội, qua đó giúp con người hiểu rõ các tình huống pháp luật và cách xử lý. Khi người dân hiểu biết pháp luật càng đầy đủ, sâu sắc thì hiện tượng vi phạm pháp luật càng giảm, tránh được các trường hợp vi phạm do thiếu hiểu biết pháp luật. Thứ ba, quá trình nhận thức về các hành vi xã hội, về sự thẩm thấu của pháp luật trong đời sống xã hội, gắn với quá trình tác động của đời sống Nhà nước và pháp luật lên các chủ thể pháp luật, qua đó, giúp các chủ thể pháp luật hình thành tình cảm pháp luật, thói quen ứng xử phù hợp với các chuẩn mực, đòi hỏi của pháp luật [14]. Quá trình này giúp mọi thành viên trong xã hội nắm bắt kịp thời các văn bản pháp luật mới ban hành và biết cách áp dụng chúng vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể trong đời sống.
Nhờ đó, mỗi người sẽ phát huy tinh thần tự giác, tích cực tham gia xây dựng và thực thi pháp luật, thể hiện quan điểm, chính kiến, thái 12 độ và hành vi ứng xử phù hợp với pháp luật. Điều này cũng giúp phát huy dân chủ và tinh thần làm chủ của mỗi công dân, hình thành văn hóa tuân thủ và chấp hành pháp luật, coi pháp luật là chuẩn mực hành vi. Nhờ vậy, mọi người không chỉ hiểu rõ và nắm vững các quy định pháp luật một cách toàn diện mà còn biết áp dụng chính xác và đầy đủ trong các tình huống cụ thể. Chủ thể pháp luật sẽ nhận thấy pháp luật không chỉ là công cụ cai trị và quản lý xã hội mà còn là công cụ bảo vệ quyền lợi, thúc đẩy sự phát triển xã hội, khai thác mọi nguồn lực xã hội, khuyến khích những hành vi tích cực và hạn chế những hành vi tiêu cực.
Từ đó, họ sẽ giác ngộ và tích cực tham gia xây dựng đời sống chính trị, pháp lý và đạo đức của xã hội. Ngoài ra, nội dung tiếp cận pháp luật còn hướng vào những giá trị và chuẩn mực chung được cộng đồng quốc tế công nhận. Giúp chúng ta nhận thấy quy luật vận động, biến đổi và tác động của các hiện tượng pháp luật, cũng như ảnh hưởng của các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa - xã hội, và cả các yếu tố khách quan lẫn chủ quan lên đời sống pháp luật. Từ đó, có thể hiểu rõ quy luật phát sinh, phát triển và tiêu vong của các hiện tượng pháp luật, hình thành ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật, tư tưởng và học thuyết chính trị - pháp lý để tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, định hướng sự phát triển của xã hội theo trật tự, phù hợp với quy luật vận động tất yếu của pháp luật trong cuộc sống.