Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về năng lực và đánh giá năng lực thực hành chăm sóc 1. Năng lực Hiện nay có rất nhiều quan điểm về cách hiểu về năng lực cả trên thế giới và ở Việt Nam. Trích dẫn theo Hoàng Hòa Bình nghiên cứu về “Năng lực và đánh giá theo năng lực” trên tạp chí khoa học số 6(71) 2015 trang 21 của Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh [2].
Tác giả đã tổng hợp về năng lực như sau: Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế giới (OECD) cho rằng Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể [2]. Theo Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem NL là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực [2]. Theo Denyse Trembaly cho rằng năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.Weinert, Năng lực là tổng hợp các khả năng và kỹ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của người học nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp [2]. Ở Việt Nam, với xu hướng giáo dục dạy học hiện đại định hướng năng lực thì vấn đề Năng lực cũng được nhiều người quan tâm và nghiên cứu như: Theo tác giả Đặng Thành Hưng “ Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.
Tác giả cũng cho rằng Năng lực là một chất khác với tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm gộp lại. Như vậy khi tách riêng ra thì tri thực, kĩ năng và hành biểu cảm là những dạng chuyên biệt của năng lực: Năng lực ở dạng tri thức (năng lực nhận thức); Năng lực kĩ năng (năng lực làm); và 4 Năng lực ở dạng xúc cảm, biểu cảm (năng lực xúc cảm). Khi kết hợp cả 3 lại vẫn là Năng lực nhưng khi kết hợp lại mang tính chất hoàn thiện hơn và khía quát hơn [3]. Theo Nguyễn Lan Phương (2015) “Đánh giá năng lực người học” quan niệm Năng lực gồm 3 thành phần chính là: Hợp phần - các lĩnh vực chuyên môn tạo nên năng lực; Thành tố-các năng lực hoặc kĩ năng bộ phận tạo nên mỗi hợp phần và Hành vi- là bộ phận được chia tách từ mỗi thành tố.
Có nghĩa là mỗi năng lực chung hoặc đặc thù đều được phân tích thành các năng lực bộ phận. Tiếp theo, mỗi năng lực bộ phận lại được phân tích thành các năng lực bộ phận bậc thấp hơn, cụ thể hơn, cho đến khi xác định được các hành vi thể hiện ra bên ngoài chúng. Các năng lực bộ phận (và hành vi) có thể đồng cấp với nhau, bổ sung cho nhau [4]. Theo quan điểm của Nguyễn Hữu Anh, dựa vào những quan điểm và cách hiểu về năng lực của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy Năng lực là một khái niệm rộng, với nhiều cách hiểu và được nhìn nhận trên nhiều lĩnh vực.
Năng lực dù trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có ba đặc trưng cơ bản, đó là: được bộc lộ ở hoạt động; tính “hiệu qủa” của năng lực. Theo quan điểm về Năng lực với Nguyễn Hữu Anh “Tìm hiểu khái niệm năng lực và tư duy phản biện trong dạy học” mặc dù khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này. Xét lại một cách tổng thể Năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất ,thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả và được bộc lộ thông qua các hoạt động như các hoạt động, hành vi, công việc [5]. Theo WHO định nghĩa của WHO Năng lực được coi là kết quả của kiến thức, kỹ năng và hành vi được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ công việc cụ thể.
Ví dụ kết quả xét nghiệm chính xác trong phòng thí nghiệm phụ thuộc vào nhân viên có đủ năng lực trong việc thực hiện một loạt các thủ tục xảy ra trong toàn bộ quá trình kiểm tra [6]. 5 Theo hội đồng Điều dưỡng quốc tế: Năng lực đề cập đến việc áp dụng hiệu quả sự kết hợp của kiến thưc, kỹ năng và khả năng phán đoán được thể hiện bởi một cá nhân trong thực hành hàng ngày hoặc thực hiện công việc. Trong các định nghĩa về điều dưỡng, có nhiều sự đồng ý rằng, trong việc thực hiện các vai trò điều dưỡng theo các tiêu chuẩn cần thiết trong việc làm, năng lực phản ánh những điều sau: Kiến thưc, hiểu biết và khả năng phán đoán; Một loạt các kỹ năng nhận thực, kỹ thuật hoặc tâm lý và giao tiếp giữa các cá nhân; và một loạt các thuộc tính và thái độ cá nhân. Đánh giá năng lực thực hành chăm sóc Theo WHO đánh giá năng lực là hoạt động có ở bất kỳ hệ thống nào để đo lường và lập hồ sơ năng lực nhân sự.
Mục tiêu của đánh giá năng lực là xác định các vấn đề với hiệu suất của nhân viên và khắc phục những vấn đề này trước khi chúng ảnh hưởng đến việc chăm sóc người bệnh [6]. Theo tác giả Bùi Hiển đưa ra khái niệm “năng lực nghề nghiệp” là khả năng thực hiện hiệu quả một nghề, một chức năng hoặc một số nhiệm vụ chuyên biệt với sự thành thạo cần thiêt. Tùy vào tính chất công việc và tính chất nghề nghiệp chuyên môn, năng lực nghề nghiệp có thể là năng lực tiến hành độc lập công tác nghiên cứu khoa học và sáng tạo trong công tác chuyên môn; năng lực thực hiện công tác chuyên môn trong lĩnh vực của mình; năng lực vận dụng, năng lực trong thực hành công việc [7]. Nghề Điều dưỡng là một nghề luôn phải tiếp xúc với các tình huống chuyên môn và các tình huống giao tiếp, năng lực nghề nghiệp được đề cập ở đây là năng lực hành động: năng lực thực hành chăm sóc.
Sinh viên Điều dưỡng, sau khi đã học qua các môn cơ sở và phần lý thuyết lâm sàng, sinh viên sẽ phải thực hiện việc học thực hành tại bệnh viện. Tại viện, sinh viên sẽ phải vận dụng năng lực chuyên môn đã được trang bị để thực hiện các công việc của Điều dưỡng viên như: thực hành nhận định người bệnh, thực hành thực hành giao tiếp người bệnh, thực hành các thủ thuật chăm sóc người bệnh, thực hành xử trí chăm sóc người bệnh, thực hành giáo dục sức khỏe cho người bệnh. 6 Xu hướng hội nhập điều dưỡng đã và đang phát triển thành một nghành học đa khoa, có nhiều chuyên khoa sau đại học và song hành phát triển với các chuyên nghành Y, Dược, Y tế công cộng trong hệ thống nghành Y tế. Để tăng cường chất lượng nguồn nhân lực điều dưỡng làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực điều dưỡng có hiệu quả đáp ứng yêu cầu hội nhập của các nước trong khu vực.
Ngày 21/4/2012, Bộ Y tế ban hành tại quyết định số: 1352/QĐ-BYT kèm theo Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam được cấu trúc theo khuôn mẫu chung của điều dưỡng khu vực Châu Á Thái Bình Dương và ASEAN để đáp ứng yêu cầu của khu vực, để dễ so sánh và hòa nhập với công cụ điều dưỡng các nước [8]. Căn cứ vào những tiêu chuẩn này, các trường đào tạo điều dưỡng đã xây dựng chuẩn đầu ra dành cho các đối tượng điều dưỡng theo từng cơ sở đào tạo. Trong bối cảnh đó, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cũng đã ban hành quy định về chuẩn đầu ra cho các đối tượng sinh viên theo 3 lĩnh vực riêng biệt là kiến thức, thái độ và thực hành. Để nâng cao chất lượng người học và hướng tới mục tiêu đào tạo nhân lực điều dưỡng chất lượng cao để hội nhập toàn thế giới thì các trường đào tạo cần phải xây dựng các công cụ đánh giá để có cái nhìn tổng thể về quá trình đào tạo của trường.
Do đó, việc đánh giá hoạt động học thực hành lâm sàng của sinh viên là một yêu cầu không thể thiếu đối với một cơ sở đào tạo điều dưỡng để từ đó cải tiến phương pháp giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Tại trung tâm Thực hành Tiền lâm sàng là nơi sinh viên sẽ được tiếp cận và trải nghiệm với các tình huống mô phỏng và sử dụng các thực hành đã học để hình thành các thực hành nghề nghiệp. Do đó, đánh giá năng lực thực hành chăm sóc của sinh viên điều dưỡng là đánh giá về việc sử dụng và ứng dụng những kiến thức, thực hành các kĩ năng và thái độ đối với người bệnh trong một tình huống chăm sóc cụ thể. Việc Sinh viên được trang bị và đánh giá năng lực học tập giúp sinh viên sẽ hình thành các năng lực nghề nghiệp trong tương lai.
Trong đó, giảng viên sẽ đánh giá năng lực thực hành của sinh viên Điều dưỡng qua việc lồng ghép thực hành các kỹ thuật chăm sóc từ đơn giản đến phúc tạp kết hợp với việc nhận định, xử trí diễn biến của các tình huống chăm sóc dựa 7 trên tình huống mô phỏng thông qua 1 bảng kiểm dựa theo quy trình Điều dưỡng.3 Các hình thức đánh giá năng lực thực hành chăm sóc Carrie B. Lenburg và cộng sự (2011) đưa ra mô hình đánh giá theo công cụ đầu ra và thành quả (Competency Outcomes and Performance Assessment Model - COPA) thay cho phương pháp truyền thống. Theo tác giả, hành vi lâm sàng cốt lõi và toàn diện cung cấp các bằng chứng về năng lực lâm sàng của sinh viên điều dưỡng, việc đánh giá cần tập trung vào vai trò giảng viên và việc dựa trên công cụ đầu ra. Theo Pamela Baxter và Geoff Norman (2011), sinh viên tự đánh giá là hoạt động quan trọng trong đào tạo điều dưỡng.
Tuy nhiên, có một số hạn chế về tính chính xác của tự đánh giá. Nhóm tác giả đã thực hiện việc so sánh kết quả tự đánh giá của sinh viên bằng bảng hỏi và kết quả giảng viên đánh giá sinh viên bằng việc thi lâm sàng khách quan theo cấu trúc (OSCE) cho thấy việc đo lường sự tự tin và năng lực trong thực hành lâm sàng của sinh viên có thể ít chính xác hơn so với việc sinh viên thi bằng hình thức OSCE [10].