MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khi nhìn về Á Đông ngày nay, Nhật Bản không chỉ nổi lên như là một trong ba nền kinh tế lớn nhất trên thế giới (tính theo GDP năm 2015). Nhưng nổi bật hơn cả chính là sự dung hòa một cách gần như hoàn hảo của nền văn hóa Á Đông truyền thống bên cạnh những thành tựu khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới. Nếu như ngày xưa, người Nhật được ví von như hình ảnh của chàng võ sĩ samurai bên cạnh hoa cúc1, thì ngày nay, lại được biết đến như hình ảnh của con tàu siêu tốc Shinkansen bên cạnh hình bóng của kimono cổ truyền.
Điều đó cho thấy bức tranh văn hóa điển hình của hai “gam màu” truyền thống và hiện đại đã và đang làm nên bản sắc văn hóa đầy sức mạnh của dân tộc này. Rất nhiều những yếu tố làm nên sự thành công đó. Cũng rất nhiều nguyên nhân đã làm nên bản sắc rất riêng của Nhật Bản ngày nay. Tất cả đã được tạo dựng căn bản từ cải cách Minh Trị thời cận đại với vai trò quan trọng của chủ trương “Thoát Á - nhập Âu”.
Luận văn này tìm hiểu chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” của Nhật Bản thời cận đại từ góc nhìn Văn Hóa Học với mong muốn từ hướng tiếp cận mới có thể đóng góp thêm cho nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện đề tài vốn đã được khá nhiều học giả Việt Nam và thế giới quan tâm. Thêm nữa, thế kỷ XIX đã chứng kiến những biến chuyển mạnh mẽ của dòng chảy lịch sử. Các quốc gia Đông Á như Nhật Bản hay Việt Nam cũng không ngoại lệ. Trước những áp lực đang đè nặng từ phương Tây, các quốc gia Đông Á đứng trước sự chọn lựa nhằm tìm ra con đường thay đổi đất nước.
Tuy nhiên, ở Nhật Bản đã không diễn ra các cuộc cách mạng xã hội theo kiểu phương Tây mà đã lựa chọn thay đổi bằng các tư tưởng canh tân, trong đó chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” đóng 1 Một trong những nghiên cứu văn hóa phương Tây đầu tiên về Nhật Bản là “Hoa cúc và thanh kiếm” của Ruth Benedict. Trong đó Bà nhận xét “It was Japanese - the strength and the weakness of Japan” (tạm dịch “đó là người Nhật mà chúng ta từng biết, sức mạnh và sự yếu đuối song hành”). Sự dung hòa của các mặt đối lập lại là một trong những nét chính yếu của Nhật. 9 vai trò là tư tưởng chủ đạo.
Nhật Bản với chủ trương “thoát Á - nhập Âu” đã mở cửa đón nhận văn minh Phương Tây và thành công. Trái lại, những quốc gia Đông Á khác trong đó có Việt Nam, Triều Tiên đã bị lịch sử cận đại bỏ lại phía sau và trở thành thuộc địa, còn Trung Quốc thì trở thành miếng mồi cho nhiều cường quốc xâu xé. Chính những kinh nghiệm lịch sử của Nhật Bản thời cận đại vẫn còn có thể gợi ý nhiều bài học có ý nghĩa hôm nay trên con đường đi đến thành công trong công cuộc hiện đại hóa và hội nhập của đất nước. Cuối cùng, bản thân người viết đã có cơ hội được được học tập và làm việc tại Nhật Bản trong khoảng thời gian tương đối dài (từ năm 2001).
Việc tiếp cận các tài liệu bằng tiếng Nhật và những chuyến đi thăm các viện bảo tàng, các di tích văn hóa, v. đã giúp học viên có cái nhìn tổng quan về sự thay đổi đáng ghi nhận ở khía cạnh văn hoá tại Nhật Bản. Lịch sử vấn đề Phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát được, trên thế giới và Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Nhật Bản. Trong giới hạn của đề tài chúng tôi điểm qua các tác phẩm liên quan trực tiếp và gián tiếp như sau: a.
Những công trình của các tác giả Nhật Bản Học giả Nhật Bản Toyama Shigeki ngay trong những năm Nhật Bản bị Hoa Kỳ chiếm đóng sau chiến tranh thế giới thứ hai đã cho ra đời tác phẩm nghiên cứu về 明治維新 - Meiji Ishi (Minh Trị Duy Tân) (1951). Tác phẩm nghiên cứu này tuy có góc nhìn thiên về chính trị học nhưng đã trình bày khá rõ bối cảnh lịch sử dẫn đến công cuộc cải cách thời Minh Trị. Điều này giúp cho việc hiểu rõ bối cảnh lịch sử cho ra đời của chủ trương thoát Á - nhập Âu. Ishii Takashi năm 1960 cho ra đời 明治維新の舞台裏 - Meiji ishin no butaiura (Phía sau vũ đài của Minh Trị Duy Tân).
Ishii cho thấy các quan hệ ngoại giao và vị trí trên chính trường thế giới của Nhật trước và sau thời cải 10 cách Minh Trị. Tác giả khắc họa được những ảnh hưởng tích cực mà công cuộc cải cách đã mang lại. Quyển sách sử bằng tiếng Nhật 詳説日本史 - Shousetsu nihonshi (Tường thuyết Nhật Bản sử) (2013) ở phần 2 chương IX với những biên niên kỷ cụ thể, chính xác giúp đối chiếu với các tài liệu vốn có. Đồng thời quyển sách này cũng giúp hiểu rõ thêm về quan điểm chính thống của các nhà sử học Nhật Bản về Minh Trị duy tân cũng như về phong trào văn minh khai hóa.
Những công trình của các tác giả Âu Mỹ - Những công trình liên quan đến lịch sử và văn hóa Nhật Bản Đầu tiên có thể kể đến công trình nghiên cứu văn hóa Nhật Bản được xem là kinh điển và gây tiếng vang khá lớn ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc là The chrysanthemum and the sword (Hoa cúc và thanh kiếm) (1946). Công trình dành chương IV (21 trang) để trình bày về “The Meiji Reform” (Cải cách Minh Trị). Tuy nhiên chủ yếu công trình nghiên cứu này nhằm tìm hiểu bản sắc văn hóa Nhật Bản. Thông qua các đánh giá về tâm lý mà R.
Benedict cho là “mặc cảm liêm sỉ” (đối lập “mặc cảm tội lỗi” của phương Tây). Tác giả đã định vị những khác biệt văn hóa giữa Âu - Mỹ, mà cụ thể là Hoa Kỳ và Nhật Bản. Cũng cần nói thêm rằng quyền sách này ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu Nhật Bản như một kẻ thù trong cuộc chiến tranh thế giới vừa mới xảy ra. Vì thế nên xem xét thận trọng những luận điểm có phần thiên kiến của tác giả về văn hóa Nhật.
Công trình A History of Japan (xuất bản lần đầu tiên vào tháng 5/1963) do tác giả người Anh George Sansom chấp bút được dịch giả Lê Năng An dịch lại với tên Lịch sử Nhật Bản. Quyển III của công trình, tác giả trình bày về giai đoạn lịch sử từ năm 1615 đến năm 1867. Đây là giai đoạn giúp hiểu rõ bối cảnh lịch sử - xã hội trước công cuộc Minh Trị duy tân. 11 Quyển A History of Japan (Lịch sử Nhật Bản) xuất bản lần đầu tiên vào năm 1972 của hai tác giả R.G Caiger được Nguyễn Văn Sỹ dịch ra tiếng Việt (2003).
Đây là một công trình nghiên cứu công phu, chi tiết các giai đoạn lịch sử Nhật Bản từ thuở hồng hoang với truyền thuyết về hình thành đất nước, dân tộc Nhật cho đến giai đoạn lịch sử gần đây với sự phát triển vượt bậc sau đại chiến thế giới lần 2. Đặc biệt, ở chương XV tác giả trình bày giai đoạn gọi là “thời kỳ phục hưng Nhật Bản” (một kiểu so sánh với thời Phục Hưng châu Âu) với các nghiên cứu về các chính sách ngoại giao, kinh tế cũng như các thay đổi trên bình diện xã hội tại Nhật. Công trình Yapontsy (Người Nhật) (1985) do hai học giả người Nga là V. Ladanov do Đức Dương dịch đề cập chủ yếu đến các vấn đề về đặc trưng văn hóa Nhật Bản.
Ông giới thiệu văn hóa Nhật Bản thông qua các nghiên cứu về phương thức đối nhân xử thế, tôn giáo, tinh thần Bushido (võ sĩ đạo), Ikebana (nghệ thuật cắm hoa), trà đạo, thiền, v. trong đời sống người Nhật. Bên cạnh đó ông cũng có nhận xét khá xác đáng những đặc điểm tâm lý của giới quản lý doanh nghiệp ở Nhật. Tác phẩm giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan về văn hóa Nhật Bản.
Năm 2000, công trình Hirohito and the making of Modern Japan (Nhật Hoàng Hirohito và công cuộc kiến thiết nước Nhật hiện đại) của sử gia người Mỹ Herbert P. Bix được công bố tại đại học Harvard. Nghiên cứu này ngay năm sau (2001) thì được trao giải Pulitzer tại Hoa Kỳ. Tác phẩm tiếp cận được các tư liệu hạn chế của hoàng gia Nhật cũng như các công bố mới từ kho tư liệu chính phủ Mỹ.
Nội dung nghiên cứu gián tiếp liên quan đến đề tài nhưng cho chúng ta cái nhìn rõ nét về bức tranh lịch sử - xã hội Nhật Bản giai đoạn trước và trong chiến tranh thế giới lần II. Bên cạnh đó, công trình cũng 12 vạch ra nguyên nhân công cuộc hồi sinh của thời hậu chiến với các ảnh hưởng mà thời cận đại đã góp phần mang lại. Là người Nhật (2014) là tác phẩm mới nhất của nhà Nhật Bản học người Nga A. Ông trình bày lịch sử Nhật Bản ngay sau thời Minh Trị, nêu rõ những thành quả tích cực cũng như các ảnh hưởng tiêu cực của công cuộc duy tân tại Nhật Bản.
Những công trình liên quan đến thời cận đại và Minh Trị Thiên Hoàng Hai ấn bản tiếng Anh The Meiji Restoration (1972) của W. Beasley và Emperor of Japan: Meiji and His World, 1852-1912 (2002) của Keene Donald là những công trình nghiên cứu khá sâu về thời đại Minh Trị. Các tác phẩm này tiếp cận được các nguồn tài liệu đáng tin cậy2 và có cái nhìn độc lập, khách quan của người từ bên ngoài Nhật Bản. Tuy khái niệm “Meiji Restoration - Minh Trị duy tân” được trình bày khá kỹ trong cả hai công trình trên tuy nhiên phần lớn nhìn ở góc độ chính là lịch sử.
Cũng liên quan đến công cuộc cải cách Minh Trị, ấn bản The Meiji Restoration and the rise of modern Japan (Minh Trị duy tân và sự phát triển của Nhật Bản hiện đại) của Monique Avakian (ấn hành năm 1991) là công trình nghiên cứu tuy ngắn gọn (chỉ 61 trang và chen vào rất nhiều hình ảnh minh họa) nhưng khắc họa được các nét chính yếu về các cải cách giai đoạn trị vì của Thiên Hoàng Minh Trị. Năm 1992 nhà nghiên cứu George M. Wilson cho xuất bản Patriots and Redeemers in Japan (Những nhà ái quốc và cứu tinh ở Nhật Bản) trong đó ông trình bày các động lực hay lý do đã dẫn đến cải cách Minh Trị. Đặc biệt ở chương 6, Wilson đã thu thập lại và trình bày hết sức kỹ “phong trào” 2 Các tài liệu gốc để nghiên cứu về Hoàng Gia Nhật Bản cho đến tận ngày nay vẫn còn rất nhiều nhưng không thể tiếp cận chính thức được do bị hạn chế bởi chính luật pháp Nhật Bản.