Chương 1. Chủ thể chuyển quyền trong giao dịch chuyển quyền sử dụng đất. Chủ thể nhận chuyển quyền trong giao dịch chuyển quyền sử dụng đất. CHỦ THỂ CHUYỂN QUYỀN TRONG GIAO DỊCH CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ THỂ CHUYỂN QUYỀN TRONG GIAO DỊCH CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Theo quy định tại Điều 105 và 115 của Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sử dụng đất là quyền tài sản và được xem là một loại tài sản. Do đó, chủ thể sử dụng đất ngoài quyền được khai thác, tác động trực tiếp để thu hoa lợi, lợi tức, quyền sử dụng đất còn có thể được tham gia vào giao dịch dân sự khi đáp ứng các điều kiện luật định trong đó có điều kiện về chủ thể. Khái niệm, đặc điểm của chủ thể chuyển quyền trong giao dịch chuyển quyền sử dụng đất 1. Khái niệm Giao dịch quyền sử dụng đất là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đối với quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì: “chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này qua người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất”. Như vậy, chủ thể chuyển quyền trong giao dịch chuyển quyền sử dụng đất bao gồm: bên chuyển đổi, bên chuyển nhượng, bên tặng cho, bên thừa kế, bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đặc điểm Vì quyền sử dụng đất là quyền tài sản và được coi là tài sản nên giao dịch chuyển quyền sử dụng đất là giao dịch dân sự và chủ thể chuyển quyền sử dụng đất cũng có các đặc điểm chung của bên bán trong giao dịch dân sự. 9 Đặc điểm chung này được quy định tại Bộ luật Dân sự và văn bản hướng dẫn, như: phải là người có quyền sở hữu tài sản một cách hợp pháp và đáp ứng điều kiện năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật dân sự.
Xuất phát từ đặc thù của đất, chủ thể chuyển quyền trong giao dịch chuyển quyền sử dụng đất còn có các đặc trưng riêng. Các đặc trưng này được quy định tại Luật Đất đai và được cụ thể tại văn bản hướng dẫn. Theo đó, không phải người có quyền sử dụng đất hợp pháp nào cũng có quyền chuyển quyền sử dụng đất. Theo quy định của Luật Đất đai, “có bốn phương thức để xác lập quyền sử dụng đất là giao đất, thuê đất của Nhà nước, công nhận quyền sử dụng đất và nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua giao dịch nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất”1.
Không phải chủ thể nào cũng có quyền sử dụng tất cả các phương thức này để xác lập quyền sử dụng đất, việc áp dụng phương thức nào để xác lập quyền sử dụng đất được Luật Đất đai quy định chặt chẽ. Ví dụ, như đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất để ở thì không có quyền xác lập thông qua việc giao đất. Người có quyền sử dụng đất được xác lập thông qua một trong các phương thức nêu trên thì người này là chủ thể sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đồng nghĩa với việc người này có quyền giao dịch.
Để có quyền giao dịch quyền sử dụng đất, người này phải được phép giao dịch. Người được phép giao dịch được quy định bởi Luật Đất đai. Theo quy định, chủ thể sử dụng đất bao gồm tổ chức trong nước, hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao. Trong các chủ thể này có những chủ thể hoàn toàn không có 1 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
10 quyền giao dịch quyền sử dụng đất. “Các chủ thể hoàn toàn không có quyền giao dịch bao gồm: cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo”2. Các chủ thể còn lại có thể có quyền giao dịch và quyền giao dịch của các chủ thể này phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau, trong đó chủ yếu phụ thuộc vào căn cứ xác lập quyền sử dụng đất và việc thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước. Về nguyên tắc, người không có quyền giao dịch là người thuộc trường hợp: được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất, nhưng được miễn tiền sử dụng đất; người được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc như giao đất có thu tiền mà được miễn tiền sử dụng đất; người thuê đất trả tiền hàng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần nhưng được miễn tiền thuê đất.
Ngoại lệ của nguyên tắc áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước; tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán, bán kết hợp cho thuê. Để chuyển quyền sử dụng đất, người có quyền sử dụng đất hợp pháp phải có quyền giao dịch quyền sử dụng đất và đủ điều kiện để tiến hành giao dịch quyền sử dụng đất theo quy định. Theo quy định của Luật Đất đai và luật liên quan, chỉ những người sau đây mới có quyền chuyển quyền sử dụng đất: Thứ nhất, phải có quyền giao dịch quyền sử dụng đất. Với các loại tài sản khác, chủ thể tiến hành giao dịch với hầu hết các loại tài sản này đều được pháp luật quy định theo hướng sẽ được quyền giao dịch trừ trường hợp có quy định cấm.
Tuy nhiên, với quyền sử dụng đất, người có quyền sử dụng chỉ có quyền giao dịch khi được Luật đất đai cho 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2013; tương ứng với Điều 117 Luật Đất đai năm 2003. Theo đó, Luật Đất đai chỉ cho phép các chủ thể có quyền giao dịch quyền sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện sau: Một là, phải là chủ thể sử dụng đất. Để giao dịch quyền sử dụng đất, điều kiện đầu tiên pháp luật quy định là phải có giấy chứng nhận. Tư cách chủ thể của bên chuyển quyền sử dụng đất phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua giấy chứng nhận.
“Điều này được xác định thông qua quy định về thời điểm và điều kiện tiến hành giao dịch tại Luật Đất đai năm 2013, buộc bên chuyển quyền trong giao dịch phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”3. Tuy nhiên, Luật Đất đai cũng chấp nhận ngoại lệ, cho phép hai trường hợp không phải là chủ thể sử dụng đất, vẫn được tham gia giao dịch. Trường hợp thứ nhất là người thuê lại đất của chủ đầu tư thuê đất của Nhà nước để xây dựng kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất. Nếu thuê lại trả tiền thuê lại một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền thực hiện tất cả các giao dịch trừ các giao dịch chuyển đổi, để thừa kế mà không cần có sự đồng ý của chủ thể sử dụng đất.
Nếu thuê lại với hình thức trả tiền thuê đất hàng năm thì có quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất theo hình thức cho thuê lại thu tiền thuê đất hàng năm. Trong trường hợp này, mặc dù không phải là chủ thể sử dụng đất nhưng chủ thể này vẫn được cấp giấy chứng nhận theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013. Trường hợp không phải là chủ thể sử dụng đất nhưng vẫn được tiến hành giao dịch thứ hai là người không có quyền sử dụng đất tại Việt Nam nhưng được tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất. Trường hợp này, mặc dù không được cấp giấy chứng nhận nhưng chủ thể vẫn được thực hiện việc tặng cho và chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
“Khi đưa quyền sử dụng đất vào tham gia giao dịch, bên chuyển quyền cần cung cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bên tặng cho trong trường hợp giao dịch tặng 3 Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. 12 cho, cung cấp được giấy tờ chứng minh quyền thừa kế trong trường hợp được thừa kế”. Hai là, phải được Luật Đất đai cho phép giao dịch. Những chủ thể được giao dịch quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai là “hộ gia đình, cá nhân trong nước, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”4.
Tùy thuộc vào hình thức sử dụng đất, nguồn gốc tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà từng chủ thể được hoặc không được phép tham gia giao dịch chuyển quyền. Về hình thức sử dụng đất, về nguyên tắc, pháp luật chỉ cho phép các chủ thể sử dụng đất được tiến hành giao dịch khi sử dụng đất theo hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà không được miễn tiền sử dụng đất trừ trường hợp được miễn tiền sử dụng đất để thực hiện dự án kinh doanh nhà ở và miễn tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân; “thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà không được miễn tiền thuê đất trừ trường hợp được miễn tiền thuê đất để thực hiện dự án kinh doanh nhà ở; thuê đất trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà tiền đã trả cho thời hạn thuê còn lại ít nhất là 5 năm; Đối với người thuê lại đất của chủ đầu tư kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì phải trả tiền thuê đất một lần và bên cho thuê lại phải sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê”5.