Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ CÁC QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ 1. Khái niệm bán phá giá Định nghĩa theo góc độ ngôn ngữ: Từ trước đến nay, người ta thường hiểu một cách đơn giản, "bán phá giá" nghĩa là bán dưới giá thị trường. Ví dụ như tại một khu chợ các sạp hàng rau đều bán một bó rau muống với giá 8.000 đồng, tuy nhiên có một cửa hàng bán với giá 5.000 đồng, thì hành động đó bị coi là bán phá giá.
Đối với thực trạng quan hệ thương mại quốc tế hiện nay, cách hiểu trên là không đúng. Từ điển tiếng Việt trực tuyến, phiên bản ngày 18/3/2004 của Trung tâm Từ điển học Việt Nam quy định: bán phá giá là việc bán ồ ạt hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trường, thậm chí chịu lỗ, để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường. Đại từ điển Trung Việt - do Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành năm 1999 quy định: bán phá giá là bán với giá thấp hơn giá chung của thị trường để nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường (trang 96) [Dẫn theo: 7, tr. Như vậy, các cách hiểu về bán phá giá như trên đều có đặc điểm chung là việc bán hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trường.
Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường bán phá giá là bán dưới giá thị trường thì khái niệm không quan tâm đến mục đích của việc bán phá giá là gì, có nhằm mục đích cạnh tranh, chiếm đoạt thị trường hay không. Vì vậy rất khó để xác định chính xác hành động đó có được coi là bán phá giá. Bởi vì trong nền kinh tế thị trường, cứ giá nào có người mua thì người ta có quyền bán, hơn nữa có thể hàng hóa của họ là hàng hóa dư thừa, tồn kho, bị kém chất lượng, mất mốt 14 z hoặc có nhu cầu quay vòng vốn nhanh. nên cần phải bán dưới giá thị trường để tiêu thụ được hàng hóa.
Tuy nhiên định nghĩa thuật ngữ bán phá giá của từ điển Tiếng Việt trực tuyến, hay Đại Từ điển Trung - Việt không chỉ quan tâm đến hiện tượng bán thấp hơn giá thị trường mà còn chú trọng đến cả mục đích của hành động bán dưới giá thị trường là để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường. Như vậy theo các cách định nghĩa này, bán phá giá thực chất là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cần phải ngăn chặn và có biện pháp xử lý để duy trì sự ổn định của thị trường. Thuật ngữ bán phá giá trong Tiếng Anh được dịch ra là: "dumping". thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa thông thường "dumping" có nghĩa là vứt bỏ những thứ không thích (to get rit of something you do not want).
còn nghĩa được dùng trong thương mại là "to get rit of goods by selling them at a very low price, often in another country", có nghĩa là bán tống một hàng hóa ở mức giá rất thấp, thường là bán ra nước khác (Từ điển Oxford Advanced Genie - xuất bản lần thứ 6 - Oxford University Press 2000) [Dẫn theo: 25, tr. Như vậy theo nghĩa chuyên ngành thì "dumping" được hiểu là bán phá giá và để xác định hành động bán phá giá người ta quan tâm đến mức giá bán và có sự so sánh giữa thị trường các nước khác nhau. Có thể thấy những cách hiểu thông thường của các ngôn ngữ khác nhau về thuật ngữ bán phá giá đều phản ánh không đầy đủ, nhưng đã nói lên phần nào đặc trưng của bán phá giá. đó là đặc trưng bán hàng ở một mức giá rất thấp, với mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường mà thông thường là ở thị trường nước ngoài.
Định nghĩa theo góc độ pháp lý: Trong thương mại quốc tế, bán phá giá được hiểu là sự phân biệt giá cả giữa các thị trường quốc gia. Với cách hiểu này thì bán phá giá có thể xảy 15 z ra các tình huống khác nhau, có thể là: người sản xuất/người xuất khẩu bán hàng hóa của mình tại thị trường trong nước với giá thấp hơn giá bán hàng hóa đó ở thị trường nước ngoài; hoặc người sản xuất/người xuất khẩu bán hàng hóa đó ở thị trường trong nước với giá cao hơn giá bán hàng hóa đó ở nước ngoài; hoặc người sản xuất/người xuất khẩu bán hàng hóa của mình với các mức giá khác nhau ở các thị trường nước ngoài khác nhau. Như vậy, điểm mấu chốt của cách hiểu này là sự phân biệt giá cả của cùng một hàng hóa ở các thị trường quốc gia khác nhau, bất luận là cao hơn hay thấp hơn được tính ở mỗi thị trường quốc gia. Tuy nhiên, trong các tình huống có thể xảy ra như phân tích ở trên, thì thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế đã chứng minh rằng chỉ có cách hiểu thứ hai đó là hàng hóa được bán ở thị trường trong nước với mức giá cao hơn giá bán hàng hóa đó ở nước ngoài thì mới có thể gây tổn hại đối với nước nhập khẩu, nhất là đối với các nhà sản xuất hàng hóa tương tự ở nước nhập khẩu.
Do đó, hành động bán phá giá này mới cần phải ngăn chặn. Với cách tiếp cận này, bán phá giá có thể được hiểu như sau: Bán phá giá là sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế, trong đó giá của một hàng hóa khi được bán tại thị trường của nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá của hàng hóa đó được bán tại thị trường của nước xuất khẩu. Cách hiểu trên phù hợp với cách hiểu về bán phá giá của WTO. Theo Điều 2, Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994 thì: Một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị hàng hóa thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường [13].
16 z Theo định nghĩa trên, bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán ở nước khác với mức Giá xuất khẩu thấp hơn Giá trị thông thường của sản phẩm đó được bán trong nước. Ví dụ: người sản xuất vải ở Trung Quốc bán vải lụa ở thị trường Trung Quốc với giá 20 USD/m, nếu người đó xuất khẩu vải cùng loại sang thị trường Việt Nam và bán với giá 15 USD/m, thì người đó đã có hành động bán phá giá. Lịch sử pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế Khái niệm "bán phá giá" trong thương mại quốc tế có một lịch sử lâu đời. Các công trình nghiên cứu về lịch sử thương mại quốc tế đã cho thấy ngay từ cuối thế kỷ XVI, các nhà sản xuất giấy ở Anh đã phàn nàn về hiện tượng những người nước ngoài đem bán giấy với mức giá chịu lỗ nhằm bóp nghẹt nền công nghiệp giấy của Anh.
Đến thế kỷ XVII, các thương nhân Hà Lan cũng tiến hành những hoạt động bán hàng hóa với mức giá rất thấp nhằm xóa sổ các thương nhân Pháp ra khỏi vùng Baltic. Vào cuối thế kỷ XVIII, thậm chí các nhà sản xuất Anh quốc còn bị khiếu nại về việc bán giá sản phẩm quá thấp nhằm vùi dập nền công nghiệp sản xuất ở Mỹ. Trong những cuộc tranh luận tại Mỹ năm 1791, Alexander Halinton đã cảnh báo về các thủ pháp của các đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nước khác để nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường. "Những trường hợp bán phá giá của các nhà sản xuất Anh tại thị trường mới mẻ ở nước Mỹ đã được báo cáo.
Cuộc tranh luận của công chúng về vấn đề này, cùng nhiều nỗ lực của ngành lập pháp nhằm đối phó với nó cũng được ghi nhận trong gần hết thế kỷ 19" [10, tr. Đầu thế kỷ 20, khi việc sử dụng thuế nhập khẩu để ngăn chặn hàng hóa bán phá giá tỏ rõ nhiều bất cập, các quốc gia mới bắt đầu ban hành luật riêng về chống bán phá giá. Canada là nước đầu tiên sửa đổi luật thuế nhập khẩu của mình để có một phần riêng quy định về thuế chống bán phá giá vào năm 1904 và trở thành nước đầu tiên trên thế giới ban hành luật chống bán phá giá. Mô 17 z hình pháp luật về chống bán phá giá của Canada nhằm trao quyền kiểm soát chống bán phá giá cho một vài cơ quan có thẩm quyền độc lập trong chính phủ, thường là các cơ quan cũng đồng thời chịu trách nhiệm kiểm soát thuế nhập khẩu và các loại thuế đặc biệt khác.
Sau khi được ban hành, pháp luật về chống bán phá giá của Canada đã tỏ rõ tác dụng của nó trong việc bảo hộ các nhà sản xuất nội địa trước luồng hàng hóa giá rẻ từ nước ngoài tràn vào. Do vậy, pháp luật nước này đã nhanh chóng trở thành hình mẫu để các nước khác noi theo. Luật chống bán phá giá được ban hành tại Newzealand năm 1905, Australia năm 1906 và Nam Phi năm 1914. Nước Mỹ có Đạo luật chống bán phá giá năm 1916 và nước Anh có vào năm 1921.
Hoạt động bán phá giá tự bản thân nó đã là hoạt động mang tính xuyên quốc gia. Các nước ngay lập tức đã thấy lợi ích của mình bị tác động bởi các hành vi bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá, cho dù đó là nước có doanh nghiệp bán phá giá ra nước khác hay bản thân nền kinh tế nước đó đang bị ảnh hưởng bởi hàng hóa bị bán phá giá. Chính vì vậy, cũng là điều dễ hiểu khi không lâu sau khi bán phá giá trở thành mối quan tâm của chính phủ một số nước thì nó đã trở thành mối quan tâm chung trên phạm vi quốc tế. Liên đoàn các quốc gia (The League of Nations), một trong những tổ chức quốc tế liên chính phủ đầu tiên trên thế giới đã ngay lập tức có sự quan tâm tới bán phá giá mặc dù đây là vấn đề không liên quan trực tiếp tới mục đích mà tổ chức này vẫn theo đuổi là chính trị và ngoại giao.
Tuy vậy, những nỗ lực của tổ chức này đối với vấn đề bán phá giá cũng chỉ dừng lại ở việc chủ trì soạn thảo Biên bản ghi nhớ về bán phá giá (Memorandum on Dumping) không có giá trị ràng buộc thực sự về mặt pháp lí đối với các quốc gia thành viên [10, tr.