CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU 1. Cơ sở lý luận về chính sách công 1. Khái niệm chính sách công Trên thế giới, việc nghiên cứu về chính sách công được khởi động từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tiêu biểu là các nghiên cứu của các học giả Mỹ. Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách công bởi nó đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Bởi vì, mỗi người có cách tiếp cận, cách hiểu về chính sách công không giống nhau. Theo nhà kinh tế học Frank Ellis (1994) [7] thì không có một định nghĩa duy nhất về thuật ngữ “Chính sách công” phù hợp với tất cả mọi người mà cách hiểu thông thường được nói đến nhiều nhất: Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái hoặc Chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - KT - XH; là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định. Đối với Việt Nam, do đặc điểm của hệ thống chính trị và hệ tư tưởng cho nên vấn đề nghiên cứu về chính sách công mới chỉ được đề cập trong khoảng gần 20 năm trở lại đây, đặc biệt từ khi chúng ta chấp nhận cơ chế thị trường với định hướng XHCN và chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Hiện nay, ở Việt Nam khái niệm về chính sách công có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo quan điểm các nhà khoa học của Viện Chính trị học [5], Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, khái niệm chính sách công xuất phát từ các vấn đề của thực tiễn như là sử dụng các nguồn lực của nhà nước đúng và hiệu quả. Hai mặt của vấn đề đó là kỹ thuật (sử dụng chi phí tối thiểu với kết quả tối đa) và hệ giá trị (kết quả đó còn phải phù hợp với hệ giá trị mà xã hội đó theo đuổi). Từ đó, các nhà khoa học của Viện Chính trị học cho rằng chính sách công là “Chương trình hành động của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể” Nội hàm của định nghĩa này có 3 nội dung cần quan tâm: Một là, chính sách công là những “chương trình” gồm các đường lối, chính 8 sách, biện pháp liên quan với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, mang tính hệ thống, được luận giải một cách khoa học; nó khác với các chính sách với các quyết định nhất thời mang tính tình thế. Bởi vì, các quyết định nhất thời, mang tính tình thế chỉ nhằm đến giải quyết một vấn đề cụ thể trong những thời điểm nhất định thì không được coi là chính sách công.
Hai là, chính sách công mang “tính hướng đích, cụ thể”, tức là nhằm vào giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn. Ở đây cần phân biệt ba khái niệm: đường lối, chính sách, biện pháp, theo mức độ cụ thể hóa của nó. Đường lối bao gồm những nguyên tắc và định hướng phát triển chung nhất. Chính sách là sự cụ thể hóa và thể chế hóa của đường lối.
Các biện pháp là sự cụ thể hóa của chính sách và gắn với hành động thực tiễn. Ba là, chính sách công mang “tính hợp pháp”. Vì chủ thể đưa ra chính sách công chính là nhà nước, có quyền dùng sức mạnh của bộ máy quyền lực để cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, không phải chính sách công nào hay khi nào cũng dùng sức mạnh quyền lực để cưỡng chế.
Cơ sở xã hội của chính sách công lại chính là sự nhất trí và đồng thuận của nhân dân. Tính hợp pháp là điểm khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức trong khu vực tư nhân hay của các đảng phái và đoàn thể xã hội, là những chủ thể không nắm giữ quyền lực công cộng dù trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều có những ảnh hưởng nhất định đến quyền lực đó. Mặc dù có sự khác biệt đáng kể nhưng các định nghĩa trên kể cả của thế giới và Việt Nam đều có một xu hướng chung là muốn thâu tóm khái niệm chính sách công trong tính hệ thống, tổng thể của nó. Các định nghĩa đều khẳng định: Chính sách công là một vấn đề mang bản chất xã hội - nhà nước, nó không tồn tại một cách độc lập mà luôn luôn phụ thuộc nhiều chính sách liên quan, ràng buộc bởi các mối quan hệ nhân quả chồng chéo vượt ra ngoài mọi sự phân tích từng chủ thể cá nhân.
Đối tượng tác động của nó chính là nhân dân. Từ những quan niệm trên chúng ta có thể hiểu chính sách công một cách khái quát là tổng thể chương trình hành động của nhà nước tác động có ý thức đến 9 đời sống của nhân dân theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Về phân loại chính sách công: có nhiều cách phân loại khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận của chủ thể. Phân theo lĩnh vực gồm có: chính sách kinh tế, chính sách chính trị, chính sách xã hội, chính sách quốc phòng an ninh,.
Theo mức độ tổng quát có chính sách chung và chính sách riêng. Phân loại theo quy mô vấn đề: chính sách chiến lược và chính sách tác nghiệp. Theo mức độ về mặt thời gian: chính sách dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Phân loại theo chức năng của chính sách có chính sách khai thác, phân phối, chính sách điều chỉnh, điều tiết, can thiệp, khuyến khích, hỗ trợ, thí điểm.
Thực thi chính sách và ý nghĩa thực thi chính sách Tổ chức thực thi chính sách có vị trí rất quan trọng, nó là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại vì nó là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống, nhất là với thực thi chính sách. Chúng ta đều nhận thấy hoạch định một chính sách tốt là hết sức khó khăn và trải qua rất nhiều công đoạn nhưng cho dù chính sách có tốt đến mấy nhưng không được tổ chức thực thi hay thực thi kém thì nó cũng không mang lại hiệu quả, không đạt được mục tiêu mà uy tín của Nhà nước còn bị ảnh hưởng. Như vậy qua sự phân tích trên thì chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của thực thi chính sách công. Tổ chức thực thi chính sách là để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung.
Mục tiêu của chính sách có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực nên không thể cùng một lúc giải quyết hết tất cả mà phải lần lượt và việc thực thi chính sách công phải giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu chung. Thực thi chính sách để khẳng định tính đúng đắn của chính sách có nghĩa là chính sách này được triển khai rộng rãi trong đời sống xã hội và được xã hội chấp nhận thì điều này cũng phản ánh tính đúng đắn của chính sách này và ngược lại. Quá trình thực thi giúp chính sách ngày càng hoàn thiện vì chúng ta đều biết 10 chính sách không tránh khỏi tính chủ quan làm ảnh hưởng tới hiệu quả của chính sách. Để khắc phục điều này thì qua thực thi chính sách sẽ rút ra bài học kinh nghiệm và chỉnh sửa để hoàn thiện chính sách.
Vị trí, vai trò của đánh giá trong xây dựng (chu trình) chính sách công Theo khoa học chính trị, một chính sách công có chu trình gồm 4 bước: Một là, xác lập chương trình nghị sự với mục đích tìm kiếm sự nhất trí về mục tiêu. Hai là, ra quyết định chính sách nhằm tìm kiếm sự nhất trí về biện pháp để đạt được mục tiêu. Ba là, triển khai chính sách là thi hành các biện pháp đã được nhất trí; Bốn là, đánh giá chính sách tức đánh giá việc thực hiện mục tiêu, đặt ra các vấn đề mới. Như vậy, chúng ta thấy rằng đánh giá chính sách công là một trong bốn khâu của một chu trình chính sách công.
Mặc dù, đánh giá chính sách là khâu thứ tư - khâu cuối cùng trong một chu trình chính sách nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng. Để muốn biết một chính sách nào đó có phù hợp với thực tiễn, có vướng mắc và có mang lại hiệu quả hay không thì cần phải có sự đánh giá khách quan về nó. Bởi vì, khi chính sách được thiết kế không ai có thể lường hết các khía cạnh khác nhau trong các vấn đề xã hội mà nó tạo ra. Mặt khác, các nhà chính trị khi hoạch định chính sách thường đưa ý chí chủ quan của họ vào chính sách, do đó khi chính sách ra đời va chạm thực tế sẽ bộc lộ nhiều vấn đề cần được điều chỉnh, bổ sung.
Đánh giá chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách. Dù dưới hình thức nào, bất cứ chính sách nào cũng phải được tổng kết, đánh giá và kết luận về tính hiệu quả và sự thành công của nó. Vấn đề ở chỗ, trong thực tế, việc đánh giá kết quả tưởng như đơn giản nhưng thực ra lại không đơn giản, vì thế trong thực tế thì đây là khâu thường bị quên lãng hoặc nếu có thì cũng không được tiến hành một cách nghiêm túc, khoa học mà đánh giá chỉ mang tính hình thức, qua loa, đại khái cho xong, cuối cùng các chính sách đưa ra đều được đánh giá là tốt và hiệu 11 quả thế nhưng trên thực tế có khi ngược lại. Đánh giá hiệu quả chính sách phải bao gồm cả đánh giá kết quả thực tế của việc triển khai chính sách cũng như việc đánh giá bản thân quá trình xây dựng và triển khai chính sách để tổng kết các kinh nghiệm.
Tuy nhiên, để đánh giá được một cách khoa học thì khả năng đo lường được chính xác các chi phí và kết quả (định lượng cụ thể) cũng như khả năng quy được trách nhiệm là rất quan trọng nhưng cũng rất khó. Đây là vấn đề được nhiều cải cách hành chính hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta quan tâm nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong đợi. Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới và khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu 1. Khái niệm xây dựng nông thôn mới Theo quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khái niệm Nông thôn được hiểu là: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã".