Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý (mã số: 62340410) của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hồi, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Vân Anh và PGS. Nguyễn Khắc Bình (năm 2017), tập trung vào đề tài: "Chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chính sách trợ giúp xã hội (TGXH) trong chăm sóc sức khỏe tâm thần (CSSKTT) là hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp mang tính xã hội. Tại thời điểm nghiên cứu, Việt Nam thiếu một chính sách quốc gia về CSSKTT đúng nghĩa, dẫn đến sự thiếu gắn kết giữa hệ thống do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) quản lý và hệ thống do Bộ Y tế (BYT) quản lý ở cả cấp quy chuẩn lẫn cấp địa phương. Toàn bộ hệ thống chăm sóc rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn lực cơ bản tại cả cơ sở bảo trợ xã hội (BTXH) và cộng đồng:

  • Các cơ sở BTXH tuyến tỉnh thiếu hụt nghiêm trọng cơ sở vật chất; hạ tầng chưa được thiết kế và vận hành theo nguyên tắc lấy bệnh nhân làm trung tâm.
  • Đội ngũ nhân lực có nhiệt tình nghề nghiệp nhưng thiếu đào tạo bài bản về phương pháp, kiến thức và kỹ năng chuyên môn trong phục hồi chức năng (PHCN).
  • Nguồn tài chính chủ yếu đáp ứng yêu cầu giữ và nuôi dưỡng bệnh nhân hơn là chăm sóc, trị liệu và PHCN.
  • Các chính sách hiện hành (như Nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định 13/2010/NĐ-CP) và hệ thống y tế chủ yếu tập trung vào nhóm bệnh loạn thần nặng, bỏ sót các rối loạn tâm thần phổ biến khác như trầm cảm, lo âu, sang chấn sau stress, rối loạn do sử dụng chất, rối loạn tâm thần ở phụ nữ mang thai, trẻ em và trẻ vị thành niên.
  • Sự ra đời của Đề án 32/QĐ-TTg (phát triển nghề công tác xã hội) và Đề án 1215/QĐ-TTg (trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020) mở ra khuôn khổ mới nhưng vẫn ở giai đoạn đầu định hình mô hình. Do đó, luận án làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn để hoàn thiện hệ thống chính sách này.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu chung: Trên cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam, đề xuất các giải pháp chủ yếu có căn cứ khoa học nhằm hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam định hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Thứ nhất: Xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu về chính sách TGXH trong CSSKTT; xác định các chính sách cơ bản, nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá chính sách.
    • Thứ hai: Phân tích thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2015; chỉ rõ điểm mạnh, điểm yếu và lý giải nguyên nhân.
    • Thứ ba: Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT phù hợp nguồn lực trong nước và bối cảnh hội nhập quốc tế.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Hệ thống chính sách TGXH trong CSSKTT bao gồm những chính sách bộ phận cơ bản nào?
  2. Các yếu tố nào tác động đến chính sách TGXH trong CSSKTT?
  3. Phương pháp nào được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chính sách bộ phận thuộc chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam?
  4. Thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam hiện nay như thế nào; điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của những điểm mạnh, điểm yếu?
  5. Cần phải có những giải pháp và kiến nghị nào nhằm hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 05 chính sách bộ phận cơ bản: (1) Chính sách trợ cấp xã hội (TCXH); (2) Chính sách phát triển cơ sở bảo trợ xã hội (BTXH); (3) Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm; (4) Chính sách phát triển các dịch vụ công tác xã hội (CTXH); (5) Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2010 đến năm 2015; đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Về sức khỏe tâm thần và gánh nặng bệnh tật: Báo cáo Mental Health Atlas 2011 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) do Shekhar Saxena điều phối chỉ ra sự thiếu hụt nguồn lực và chênh lệch lớn giữa các nước đang phát triển. Hướng dẫn của WHO (2007) định nghĩa trợ giúp tâm lý - xã hội gồm 7 lĩnh vực (trị liệu/tư vấn, giáo dục, việc làm/thu nhập, nhà ở, giao thông, giải trí, hòa nhập). Vikram Patel và cộng sự (2007, 2008) trên tạp chí Lancet nhấn mạnh chiến lược mở rộng dịch vụ xã hội, hỗ trợ việc làm, nhà ở và bảo đảm quyền con người. Harry Minas (2009) nghiên cứu về cải cách các trung tâm của Bộ LĐTBXH. Anne Becker và Arthur Kleinman (2013) trên tạp chí New England Journal of Medicine ghi nhận hơn 75% người rối loạn tâm thần nặng ở nước chậm phát triển không được điều trị và đề xuất mô hình chăm sóc hợp tác (collaborative care) trong cộng đồng.
  • Về hệ thống chăm sóc: Báo cáo lồng ghép SKTT vào chăm sóc sức khỏe ban đầu của WHO (2008, 2009) phân tích mô hình tại 11 quốc gia. Jerry L. Johnson và George Grant Jr (2005) nghiên cứu xu hướng phân tán từ các trung tâm lớn sang các trung tâm quy mô nhỏ tại Mỹ, Úc, Pháp. Sheu Tsuey Chong và M. Er (2013) phân tích Luật SKTT Quốc gia Malaysia năm 2001. Nghiên cứu của EIU (2014, 2015) đánh giá chỉ số tích hợp y tế tâm thần khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
  • Về chính sách và pháp luật: WHO (2004) đưa ra hướng dẫn 7 bước xây dựng chính sách SKTT. Hiroto Ito và Lloyd Sederer (1999) phân tích cải cách dịch vụ SKTT tại Nhật Bản từ Luật Quản chế năm 1900 đến Luật SKTT năm 1995. Richard Frank và Sherry Glied (2006) tổng kết chính sách của Mỹ giai đoạn 1950–2005 (Medicaid, chương trình SSI). Martin Knapp và cộng sự (2007) phân tích chính sách tại châu Âu. Luận án tiến sĩ của Anna Melke (2006, Đại học Gothenburg) nghiên cứu mô hình nhà nước phúc lợi tại Thụy Điển, Pháp, Anh với 4 mục tiêu năm 2015 của Thụy Điển. Ủy ban SKTT Canada (2012) công bố Chiến lược SKTT Canada. Michael Phillips và cộng sự (2013) trên American Journal of Psychiatry phân tích Luật SKTT năm 2012 của Trung Quốc. Viện Sức khỏe và Phúc lợi Australia (2013) phân tích Chương trình Medicare (MBS) và Chương trình phúc lợi Dược (PhBS). Alexander Lourdes Samy, Zailra Fazli Khalaf, Wah-Yun Low (2015) nghiên cứu tổng quan khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Kelley Lee và cộng sự nghiên cứu kinh tế chính trị về SKTT tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Về dịch tễ và kỹ thuật can thiệp: Dự án của Grand Challenges Canada phối hợp Hội Phụ nữ tỉnh Bắc Giang (2012–2013) nghiên cứu chăm sóc không chính thức; các nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng - RTCCD (2006, 2008, 2009, 2011) về gánh nặng rối nhiễu tâm trí ở phụ nữ mang thai; nghiên cứu của Nguyễn Khắc Viện (1999), Nguyễn Công Khanh (2000), Nguyễn Minh Tuấn (2002) về tâm lý học lâm sàng, tâm lý trị liệu và chẩn đoán y khoa.
  • Về hệ thống và chính sách: Khảo sát của Cục BTXH và RTCCD (2010) về mô hình của các tổ chức phi chính phủ; dự án của Bộ LĐTBXH, UNICEF và WHO (2010, 2011) đánh giá hệ thống chăm sóc thuộc Bộ LĐTBXH quản lý; dự án điểm của Quỹ Từ thiện Đại Tây Dương (Atlantic Philanthropies) và RTCCD tại Bến Tre và Thanh Hóa (2013–2015); nghiên cứu chi phí - lợi ích của WHO, Tổng hội Y học Việt Nam và Bệnh viện Tâm thần Trung ương I tại Hà Tây và Hà Nam (2007); các báo cáo đánh giá triển khai Đề án 1215 của Bộ LĐTBXH (2012, 2015).

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở góc độ y học tâm thần, tâm lý lâm sàng đơn lẻ hoặc đánh giá cục bộ từng mô hình trung tâm. Chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu tổng thể, có hệ thống dưới giác độ khoa học quản lý về chính sách TGXH trong CSSKTT với 05 chính sách bộ phận gắn với các tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả và sự phù hợp trong giai đoạn 2010–2015.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Sức khỏe tâm thần: Luận án vận dụng định nghĩa của WHO (2006, 2014) và các hệ thống phân loại ICF, ICD. SKTT là trạng thái hoàn toàn thoải mái, nhận thức rõ khả năng của bản thân, có thể đối phó với căng thẳng bình thường, làm việc hiệu quả và đóng góp cho cộng đồng; biểu hiện qua 5 khía cạnh: khả năng tận hưởng cuộc sống, khả năng phục hồi, khả năng cân bằng, khả năng tự chủ và tiềm năng trí tuệ/tình cảm.
  • Trợ giúp xã hội trong CSSKTT: Là các biện pháp, giải pháp của Nhà nước đối với người gặp vấn đề về SKTT thông qua chính sách, chương trình, đề án nhằm giúp họ điều trị, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
  • Các quan điểm tiếp cận chính sách TGXH: (1) Tiếp cận theo quyền; (2) Tiếp cận theo quản lý rủi ro; (3) Tiếp cận theo diện phổ cập; (4) Tiếp cận theo diện mục tiêu; (5) Tiếp cận tổng thể.
  • Chính sách trợ giúp xã hội trong CSSKTT: Là một bộ phận của chính sách an sinh xã hội, bao gồm tổng thể quan điểm, giải pháp và công cụ của Nhà nước nhằm hỗ trợ người có vấn đề về SKTT thông qua tài chính hàng tháng, y tế, giáo dục, việc làm và các dịch vụ CTXH.
  • Hệ thống 05 chính sách bộ phận:
    1. Chính sách trợ cấp xã hội: Cung cấp tài chính hàng tháng đảm bảo nhu cầu sống cơ bản, chi phí nuôi dưỡng và người chăm sóc.
    2. Chính sách phát triển cơ sở BTXH: Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất công lập và ngoài công lập.
    3. Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm: Hỗ trợ miễn giảm học phí, dạy nghề phù hợp, phối hợp doanh nghiệp tạo việc làm và lao động trị liệu.
    4. Chính sách phát triển các dịch vụ CTXH: Phát triển mạng lưới trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH, tư vấn, quản lý ca, kết nối nguồn lực.
    5. Chính sách phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên CTXH và cộng tác viên cơ sở.
Nhóm tiêu chí đánh giá Nội dung tiêu chí cụ thể
Tính hiệu lực - Mức độ tuân thủ chính sách của các cơ quan, đơn vị tổ chức thực thi.
- Mức độ hưởng ứng, tham gia của gia đình và cộng đồng đối với chính sách.
Tính hiệu quả - Chính sách TCXH: Số lượng đối tượng thụ hưởng; mức trợ cấp bình quân; tỷ lệ bao phủ so với tổng số người mắc rối loạn tâm thần.
- Phát triển cơ sở BTXH: Số cơ sở xây mới/nâng cấp; ngân sách đầu tư; số lượng đối tượng có chuyển biến bệnh tình tích cực.
- Đào tạo nghề & việc làm: Số lao động có việc làm; mức thay đổi thu nhập bình quân; tỷ lệ cải thiện chất lượng cuộc sống.
- Dịch vụ CTXH: Số lượng và chất lượng các đơn vị cung cấp dịch vụ CTXH.
- Phát triển nguồn nhân lực: Quy mô nhân sự (cán bộ, nhân viên, cộng tác viên); thu nhập bình quân của nhân sự.
Sự phù hợp - Mức độ hài lòng của gia đình đối tượng thụ hưởng đối với các chế độ, dịch vụ của chính sách.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai theo quy trình nghiên cứu 3 bước:

  • Bước 1: Nghiên cứu tài liệu xây dựng khung lý thuyết.
  • Bước 2: Thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp; phân tích thực trạng giai đoạn 2010–2015; đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân.
  • Bước 3: Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2025.

Nguồn dữ liệu và kỹ thuật thu thập:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ LĐTBXH, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, số liệu thống kê từ WHO, UNICEF, RTCCD.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc trên 04 mẫu điều tra:
    • Mẫu 1: Cán bộ quản lý làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội.
    • Mẫu 2: Ban giám đốc/cán bộ quản lý tại các Trung tâm BTXH và Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần.
    • Mẫu 3: Cán bộ, nhân viên trực tiếp làm công tác xã hội tại các cơ sở và địa phương.
    • Mẫu 4: Các hộ gia đình có người mắc bệnh tâm thần/người rối nhiễu tâm trí.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến 3 mảng nội dung: sức khỏe tâm thần, hệ thống chăm sóc và chính sách CSSKTT.

  • Điểm lại các nghiên cứu dịch tễ của WHO ghi nhận khoảng 450 triệu người trên thế giới mắc rối loạn tâm thần; tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế năm 2014, riêng 10 rối loạn tâm thần thường gặp chiếm khoảng 15% dân số (tương đương 13 triệu người).
  • Phân tích xu hướng chuyển dịch quốc tế từ chăm sóc cách ly trong bệnh viện tâm thần sang mô hình CSSKTT dựa vào cộng đồng và lồng ghép chăm sóc ban đầu.
  • Tổng thuật kinh nghiệm chính sách tại các quốc gia (Mỹ, Thụy Điển, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Úc, Canada).
  • Xác định các đồng thuận khoa học và chỉ ra khoảng trống về việc thiếu một nghiên cứu phân tích chính sách TGXH tổng thể trong lĩnh vực này tại Việt Nam.

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN

Chương II thiết lập hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài:

  • Làm rõ bản chất sức khỏe tâm thần, các yếu tố quyết định sức khỏe và 5 khía cạnh biểu hiện.
  • Phân tích các quan điểm tiếp cận chính sách TGXH (quyền, rủi ro, phổ cập, mục tiêu, tổng thể) và phân loại TGXH (đột xuất, thường xuyên, tại cộng đồng, tại cơ sở BTXH).
  • Xây dựng sơ đồ hệ thống TGXH trong CSSKTT và cây mục tiêu của chính sách (gồm mục tiêu tổng thể và mục tiêu của 5 chính sách bộ phận).
  • Xác định chủ thể quản lý (Chính phủ, Bộ LĐTBXH, các cấp địa phương) và đối tượng thụ hưởng (người tâm thần phân liệt, trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, Alzheimer, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, rối loạn do rượu/ma túy, chậm phát triển trí tuệ).
  • Phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ Mỹ, Úc, Thụy Điển, Pháp, các nước Châu Á, Châu Phi; rút ra các bài học về hoàn thiện khung pháp lý, đa dạng hóa nguồn tài chính, phân cấp dịch vụ và phát triển mạng lưới nhân lực đa ngành.

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương III trình bày thiết kế và phương pháp luận nghiên cứu:

  • Thiết lập quy trình nghiên cứu 3 bước và khung lý thuyết đánh giá chính sách.
  • Mô tả chi tiết phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp từ các nguồn văn bản, báo cáo ngành LĐTBXH và Y tế.
  • Thiết kế phương pháp điều tra khảo sát sơ cấp với 4 mẫu độc lập (Cục BTXH; các trung tâm BTXH/trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần; nhân viên CTXH; hộ gia đình đối tượng chính sách).
  • Xác định hệ thống chỉ tiêu đo lường cho 3 nhóm tiêu chí: tính hiệu lực, tính hiệu quả (đầu vào - đầu ra của 5 chính sách bộ phận) và sự phù hợp.

CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI VIỆT NAM

Chương IV phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2010–2015:

  • Thực trạng nhu cầu: Cả nước có khoảng 10.000 người tâm thần nặng được chăm sóc tại 26 cơ sở BTXH ở 20 tỉnh/thành phố; diện chi trả trợ cấp thường xuyên theo Nghị định 67 và Nghị định 13 tăng từ 102.210 người (năm 2008) lên gần 200.000 người.
  • Thực trạng 05 chính sách bộ phận:
    1. Chính sách TCXH: Tỷ lệ bao phủ tăng nhưng chuẩn trợ cấp còn thấp so với mức sống tối thiểu; tiêu chí xác định bệnh bó hẹp vào nhóm loạn thần nặng, bỏ lọt các rối loạn phổ biến khác. Quy trình chi trả còn phức tạp.
    2. Chính sách phát triển cơ sở BTXH: Mạng lưới cơ sở phân bổ không đồng đều; ngân sách đầu tư giai đoạn 2011–2015 còn hạn chế; cơ sở vật chất chưa đáp ứng quy chuẩn PHCN, chủ yếu dừng ở mức quản lý nuôi dưỡng.
    3. Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm: Số bệnh nhân được dạy nghề và tạo việc làm còn rất thấp do hạn chế về nhận thức xã hội, thiếu mô hình việc làm có hỗ trợ và sự kỳ thị từ thị trường lao động.
    4. Chính sách phát triển dịch vụ CTXH: Hệ thống trung tâm CTXH mới hình thành theo Đề án 32; dịch vụ tham vấn, trị liệu tâm lý, quản lý ca chưa được triển khai đồng bộ ở tuyến cơ sở.
    5. Chính sách phát triển nguồn nhân lực: Quy mô nhân sự tăng nhưng thiếu nhân lực chuyên môn sâu về tâm thần; thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên CTXH tại các trung tâm còn thấp; thiếu danh mục vị trí việc làm chuyên trách.
  • Đánh giá tổng hợp: Luận án trình bày kết quả đánh giá qua 10 bảng khảo sát (Bảng 4.26 đến 4.35) về mức độ tuân thủ chính sách, sự hưởng ứng của cộng đồng, sự hài lòng của gia đình, hiệu quả thực thi, mức độ tiếp cận thông tin, hỗ trợ của cấp trên và tính kinh tế của chính sách.

CHƯƠNG V: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI VIỆT NAM

Chương V đề xuất hệ thống giải pháp đến năm 2020 và tầm nhìn 2025:

  • Quan điểm và mục tiêu: Đổi mới chính sách theo hướng tiếp cận quyền và dựa vào cộng đồng; nâng cao mức trợ cấp; chuyển đổi chức năng các cơ sở tập trung sang chăm sóc bán trú và phục hồi chức năng; chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm CTXH.
  • Nhóm giải pháp cụ thể theo 05 chính sách bộ phận:
    1. Hoàn thiện chính sách TCXH: Mở rộng diện đối tượng thụ hưởng ra ngoài nhóm loạn thần; điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp gắn với chỉ số giá tiêu dùng và mức sống tối thiểu; đơn giản hóa thủ tục xác nhận khuyết tật tâm thần.
    2. Hoàn thiện phát triển cơ sở BTXH: Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở theo Đề án 1215; chuẩn hóa cơ sở vật chất, buồng bệnh, khu lao động trị liệu theo hướng thân thiện; thúc đẩy cơ sở ngoài công lập.
    3. Hoàn thiện đào tạo nghề và việc làm: Xây dựng chương trình đào tạo nghề đặc thù; áp dụng chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho các doanh nghiệp tiếp nhận lao động là người phục hồi sau rối loạn tâm thần.
    4. Hoàn thiện dịch vụ CTXH: Chuẩn hóa quy trình cung cấp dịch vụ quản lý ca; mở rộng phòng trị liệu rối nhiễu tâm trí tại cấp huyện; lồng ghép dịch vụ can thiệp tâm lý - xã hội tại cộng đồng.
    5. Hoàn thiện nguồn nhân lực: Xây dựng khung ngạch bậc lương và chế độ phụ cấp độc hại/đặc thù cho nhân viên chăm sóc người tâm thần; chuẩn hóa chương trình đào tạo CTXH lâm sàng trong SKTT.
  • Kiến nghị: Phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Bộ LĐTBXH, Bộ Y tế và Bộ Tài chính trong việc ban hành hướng dẫn chuyên môn và phân bổ ngân sách.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ khung lý thuyết về chính sách TGXH trong CSSKTT dưới góc độ khoa học quản lý, khẳng định đây là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống an sinh xã hội.
  • Xác định và luận giải cấu trúc 05 chính sách bộ phận cơ bản (TCXH, phát triển cơ sở BTXH, đào tạo nghề/việc làm, dịch vụ CTXH, phát triển nguồn nhân lực).
  • Xác lập khung tiêu chí khoa học đánh giá chính sách công trong lĩnh vực đặc thù gồm 03 nhóm: tính hiệu lực, tính hiệu quả và sự phù hợp.
  • Làm rõ 02 nhóm nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phân tích bức tranh thực trạng thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam giai đoạn 2010–2015 dựa trên hệ thống số liệu quản lý nhà nước và dữ liệu điều tra thực chứng từ 4 nhóm đối tượng.
  • Chỉ rõ những tồn tại thực tế: mức trợ cấp chưa bù đắp chi phí tối thiểu; cơ sở BTXH quá tải và nặng tính nuôi giữ; đào tạo nghề và việc làm chưa phát triển; dịch vụ CTXH và nhân lực chuyên môn còn mỏng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gắn liền với việc thực hiện Đề án 1215 và Đề án 32, cung cấp luận cứ cho việc điều chỉnh quy phạm pháp luật và kế hoạch ngân sách đến năm 2020, tầm nhìn 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phạm vi nội dung tập trung vào 05 chính sách bộ phận thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, chưa đi sâu phân tích toàn diện chính sách bảo hiểm y tế và dịch vụ y tế chuyên khoa sâu do Bộ Y tế quản lý.
  • Dữ liệu thực chứng phản ánh giai đoạn 2010–2015, là thời kỳ đầu triển khai Đề án 1215/QĐ-TTg và Đề án 32/QĐ-TTg, nên một số mô hình dịch vụ mới ở mức thử nghiệm, chưa có chuỗi số liệu theo dõi dài hạn.
  • Do nguồn vốn của một số đề án chưa được lượng hóa độc lập ngay từ khâu lập chính sách, tiêu chí "tính khả thi" tài chính chưa được đo lường riêng biệt mà phải gộp trong tiêu chí tính hiệu quả.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành (Lao động - Y tế - Tài chính) trong việc đồng chi trả và tích hợp gói dịch vụ y tế - xã hội cho người rối nhiễu tâm trí.
  • Đánh giá tác động kinh tế - xã hội dài hạn của các mô hình trị liệu tâm lý và việc làm có hỗ trợ tại cộng đồng sau năm 2015.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về các nhóm đối tượng đặc thù ngoài nhóm loạn thần nặng, bao gồm trầm cảm ở phụ nữ, tự kỷ ở trẻ em và rối loạn tâm thần ở người cao tuổi.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo phục vụ Bộ LĐTBXH (Cục Bảo trợ xã hội), Bộ Y tế, Bộ Tài chính và UBND các tỉnh/thành phố trong việc rà soát, sửa đổi mức trợ cấp, quy hoạch mạng lưới cơ sở BTXH và xây dựng các văn bản hướng dẫn Đề án 1215.
  • Đối với các cơ sở BTXH và cơ sở chăm sóc: Cung cấp căn cứ thực tiễn để chuyển đổi mô hình từ nuôi dưỡng cách ly sang quản lý ca, trị liệu tâm lý, phục hồi chức năng và tái hòa nhập cộng đồng.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Tài liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các chuyên ngành Khoa học quản lý, Quản lý công, Chính sách công, Xã hội học và Công tác xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định hệ thống chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần gồm những chính sách bộ phận nào?

Luận án xác định 05 chính sách bộ phận cơ bản:

  1. Chính sách trợ cấp xã hội (hỗ trợ tiền mặt thường xuyên và đột xuất).
  2. Chính sách phát triển cơ sở bảo trợ xã hội (đầu tư hạ tầng, nâng cấp cơ sở vật chất công lập và ngoài công lập).
  3. Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm (miễn giảm học phí, dạy nghề, lao động trị liệu).
  4. Chính sách phát triển các dịch vụ công tác xã hội (tư vấn, trị liệu tâm lý, quản lý ca).
  5. Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội (đào tạo, tuyển dụng, đãi ngộ).

2. Các tiêu chí nào được sử dụng để đánh giá chính sách trong luận án?

Luận án sử dụng 03 nhóm tiêu chí:

  • Tính hiệu lực: Đánh giá mức độ tuân thủ chính sách của các cơ quan thực thi và mức độ hưởng ứng, tham gia của gia đình, cộng đồng.
  • Tính hiệu quả: So sánh đầu vào và đầu ra qua kết quả cụ thể của 05 chính sách bộ phận (số đối tượng hưởng trợ cấp, mức trợ cấp, số cơ sở BTXH, số lao động được tạo việc làm, chất lượng dịch vụ CTXH, quy mô và thu nhập nhân lực).
  • Sự phù hợp: Đo lường qua mức độ hài lòng của gia đình đối tượng thụ hưởng chính sách.

3. Thực trạng quy mô người mắc bệnh tâm thần và đối tượng hưởng trợ cấp tại Việt Nam giai đoạn 2010–2015 được ghi nhận ra sao?

Theo số liệu trong văn bản luận án:

  • Riêng 10 rối loạn tâm thần phổ biến chiếm khoảng 15% dân số (khoảng 13 triệu người năm 2014); một số nghiên cứu quy mô nhỏ ghi nhận tỷ lệ rối loạn tâm thần từ 20–30%.
  • Khoảng 10.000 người tâm thần nặng được chăm sóc tập trung tại 26 cơ sở BTXH ở 20 tỉnh/thành phố.
  • Số người tâm thần nặng được giải quyết trợ cấp hàng tháng tại gia đình và cộng đồng theo Nghị định 67 và Nghị định 13 đạt gần 200.000 người (tăng từ mức 102.210 người năm 2008).

4. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những nhóm mẫu nào?

Luận án tiến hành điều tra khảo sát trên 04 nhóm mẫu:

  • Mẫu 1: Cán bộ quản lý tại Cục Bảo trợ xã hội (Bộ LĐTBXH).
  • Mẫu 2: Ban giám đốc và cán bộ tại các Trung tâm BTXH và Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần.
  • Mẫu 3: Đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp làm công tác xã hội.
  • Mẫu 4: Các hộ gia đình có người mắc bệnh tâm thần, người rối nhiễu tâm trí.

5. Hạn chế cốt lõi của hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội tuyến tỉnh trong giai đoạn 2010–2015 là gì?

Văn bản chỉ rõ các cơ sở BTXH tuyến tỉnh thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực: cơ sở hạ tầng không được thiết kế theo chuẩn phục hồi chức năng lấy bệnh nhân làm trung tâm; nhân lực thiếu kỹ năng chuyên môn sâu về CSSKTT; nguồn tài chính chỉ đủ đáp ứng việc giữ và nuôi dưỡng bệnh nhân hơn là điều trị, trị liệu tâm lý và phục hồi chức năng.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hồi đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn đối với chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và điều tra thực chứng qua 4 nhóm mẫu, tác giả đã làm rõ thực trạng thực thi 05 chính sách bộ phận trong giai đoạn 2010–2015 theo các tiêu chí về hiệu lực, hiệu quả và sự phù hợp. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án bám sát định hướng của Đề án 1215/QĐ-TTg và Đề án 32/QĐ-TTg, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cho công tác quản lý nhà nước về an sinh xã hội đến năm 2020 và tầm nhìn 2025.