CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN VÀ THUẾ TÀI SẢN 1.1 Khái niệm và phân loại tài sản 1.1 Khái niệm về tài sản Theo điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam xác định tài sản như sau : “ tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. quyền tài sản theo điều 181 là “ Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ ”. Trong từ điển thuật ngữ kinh tế của nhà xuất bản TP HCM năm 1993 định nghĩa về tài sản như sau: “ tài sản là vật chất cụ thể hoặc vô hình có giá trị nhất định đối với chủ sở hữu”. Hai nhà kinh tế học người Anh là Simon và Christopher Nobes đã viết về tài sản trong cuốn “ Kinh tế học đánh thuế “ như sau : “ tài sản giống như thu nhập, là những của cải mà một người có được nhờ những nguồn lợi thu được từ hoạt động kinh tế.
Sự khác nhau giữa tài sản và thu nhập là : tài sản là khối lượng của cải ở một thời điểm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được trong một khoảng thời gian nhất định”. Như vậy tài sản rất phong phú và đa dạng, tài sản là một khái niệm rất rộng lớn, nó đã tồn tại rất lâu trong lịch sử nhân loại. Mỗi tài sản đều có những quyền nhất định đối với tài sản như quyền sử dụng, quyền định đoạt, quyền chuyển nhượng và quyền hủy bỏ. Khái niệm về tài sản có thể hiểu như sau : - Về hình thức : tài sản là vật được con người sử dụng , được nhận biết như : nhà cửa, tàu thuyền, vật dụng tiêu dùng …(tài sản hữu hình) ; quyền sáng chế, phát sinh quyền tác giả…( tài sản vô hình).
Xét ở giác độ nào đó, mọi tài sản đều hữu hình hoặc đều có thể hữu hình hóa. Ví dụ, một quyền tài sản vô hình sẽ hữu hình khi được thực hiện giá trị trên thực tế trở thành một lượng tiền nhất định. Nhìn chung , của cải hay một vật chỉ có thể là tài sản nếu chúng có thể được sở hữu, nghĩa là thuộc về riêng một người nào đó, một chủ thể nào đó theo quy định của Luật dân sự. Tài sản có thể được mua bán, chuyển nhượng, hao mòn và biến mất.
- Về tính vật thể : tài sản là tất cả những vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trị như tiền và các quyền thuộc sở hữu của một chủ thể nhât định. Tài sản có được là do sự tích lũy thu nhập của chủ thể từ tất cả các nguồn có thể tạo ra thu nhập : do thiên nhiên mang lại, do lao động, do đầu tư vốn, do thừa kế, biếu tặng, do hoạt 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động sản xuất kinh doanh. Tài sản có thể thường xuyên thay đổi trạng thái và giá trị tùy thuộc vào hành động của chủ sở hữu : tài sản bằng tiền có thể được chuyển thành hiện vật hoặc ngược lại, nếu chủ sở hữu tiến hành bán tài sản. Tài sản có thể tăng thêm nếu có sự đầu tư, bổ sung hoặc do tăng giá; tài sản có thể giảm đi nếu có sự chuyển sở hữu tài sản cho chủ thể khác hoặc cũng có thể giảm do hao mòn, giảm giá hoặc biến mất do rủi ro.
Như vậy khái niệm về tài sản không phải là khái niệm bất biến mà nó được biến đổi và hoàn thiện theo quan niệm về giá trị vật chất. Vì vậy khi nghiên cứu về tài sản, chúng ta cần lưu ý các khía cạnh sau : - Tài sản phải luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. - Tài sản có thể đồng nghĩa với sự tồn tại của của cải dưới dạng hữu hình trong trường hợp của cải đó trị giá được bằng tiền và có thể dùng để giao dịch mang lại lợi ích cho chủ sở hữu. - Tài sản khác với vốn : tài sản và vốn là 2 khái niệm có khi đồng nhất, có khi không đồng nhất.
Tài sản sẽ trở thành vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dưới dạng là tài sản hữu hình hoặc vô hình. Vốn thường vận động và chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác để thực hiện giá trị của hàng hóa.Vốn được tiền tệ hóa và quá trình vận động, luân chuyển của vốn làm cho của cải xã hội ngày càng tăng, phong phú. Từ đó khái niệm vốn có thể hiểu là tiền và các hình thức biểu hiện khác của tiền với tư cách là hàng hóa tham gia vào thị trường. Tài sản và vốn không là khái niệm đồng nhất khi tài sản còn trong lưu giữ, không dùng vào sản xuất kinh doanh.
- Tài sản khác với thu nhập: Nói đến tài sản của một chủ thể là nói về lượng của cải dồn tích đến tại một thời điểm nhất định nào của chủ thể. Còn nói đến thu nhập là nói đến lượng của cải mà chủ thể thu được trong một thời kỳ nhất định.Ví dụ một người có tài sản vào cuối năm 2006 là 1 tỷ đồng nghĩa là người này có tài sản là 1 tỷ đồng vào thời điểm đang nói, điều này khác với cách nói thu nhập của một người trong tháng là 10 triệu đồng. Thu nhập của một thời kỳ không bao gồm tài sản ở thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ bao gồm tất cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại (dồn tích đến thời điểm đang nói). Vì vậy, khái niệm về tài sản phải gắn với yếu tố thời điểm.
- Quan niệm về tài sản trong kinh tế phải nhất quán với qui định trong luật Dân sự về tài sản, bởi vì đối với tài sản, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có những quyền mà nội dung, hình thức và phương thức thực hiện các quyền đó (kể cả các biện pháp hạn chế thực hiện) điều do luật xác định. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Phân loại tài sản Tài sản rất phong phú và đa dạng, người ta có thể phân loại tài sản theo những tiêu thức khác nhau : - Căn cứ nguồn hình thành tài sản: gồm tài sản do thiên nhiên đem lại như đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên khoáng sản, thắng cảnh,.và tài sản do con người tạo do lao động, được thừa kế, cho tặng như đường sá, nhà cửa, tàu thuyền, xe cộ,. - Theo yêu cầu hình thái biểu hiện: gồm tài sản hữu hình (đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc,.) và tài sản vô hình (thương hiệu, quyền tác giả, quyền sáng chế phát minh,.); - Căn cứ theo đặc điểm: gồm có bất động sản và động sản. Bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai, nhà công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó: các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật qui định.
Động sản là những tài sản không phải là bất động sản - Căn cứ theo yêu cầu quản lý: có tài sản thuộc diện quản lý của nhà nước, phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng như nhà, đất, phương tiện vận tải, súng thể thao, súng săn,. và tài sản không thuộc diện quản lý, không bắt buộc phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (máy vi tính, thiết bị văn phòng, hàng kim khí điện máy,.2 Khái niệm về sở hữu tài sản và quyền tài sản 1.1 Sở hữu tài sản Có bảy hình thức sở hữu tài sản , có thể chia thành 04 nhóm chính sau đây: - Sở hữu toàn dân : Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân. - Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã, tổ chức chính trị, tổ chức nghề nghiệp hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi.
- Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bào gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân. - Sở hữu hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Quyền tài sản Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự.
Các quyền đối với tài sản gồm : - Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định. Trong trường hợp chủ sở hữu tự mình chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình, thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường hợp chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Khi chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản cho người khác, thì người được uỷ quyền thực hiện quyền chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định. - Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định. Quyền sử dụng tài sản trong trường hợp không phải là chủ sở hữu có thể được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.