Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chính sách công Chính sách công là một trong những công cụ quan trọng của quản lý nhà nước, thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa. Chủ thể ban hành chính sách công chính là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực và các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách công được các học giả đưa ra. Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng. Đỗ Phú Hải (Học viện Khoa học xã hội Việt Nam): Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện các quyết định các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền. Theo học giả William Jenkin: Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một Nhà chính trị hay một nhóm Nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đó [Dẫn theo 21.
9 Theo những nhận định trên, thì định nghĩa chính sách công có thể đưa ra ở góc độ như sau: - Định nghĩa chính sách công theo nghĩa hẹp: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có mối liên hệ với nhau của Nhà nước, với mục tiêu và giải pháp công cụ thực hiện cụ thể, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền. - Định nghĩa chính sách công theo nghĩa rộng: Chính sách công là chính sách của Nhà nước, là kết quả của việc cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền thành các quyết định với mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước và duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và mục đích phục vụ người dân. Tổ chức Từ "Tổ chức" là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hằng ngày, nhưng để định nghĩa chưa có định nghĩa chung về thuật ngữ này. Tài liệu Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước [10.Tr8] đã định nghĩa về "Tổ chức" và xem "Tổ chức" là một hệ thống của hai hay nhiều người phối hợp với nhau tạo nên một tổ chức với những mục tiêu chung thông qua ở những mức độ khác nhau của sự phân công lao động giữa những con người đó.
Nhưng theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2007, thì "Tổ chức" là sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định. Vậy xét trên tổng thể, tổ chức đòi hỏi có ít nhất hai người trở lên, có sự liên kết với nhau nhằm hướng đến mục tiêu chung và xét về bản chất thì tổ chức do con người tạo nên. Theo quan niệm trên, tổ chức có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, khi con người 10 cần có sự liên kết với nhau để đạt được mục tiêu thì họ sẽ lập nên tổ chức; khi mục tiêu đó đã thành công thì con người tự giải tán tổ chức đó. Để nâng được hòn đá nặng, một người không thể làm được, họ cần liên kết nhiều người và khi nâng được xong hòn đá, những người đó có thể tự giải tán.
Tổ chức cũng là một phát minh lớn nhất của quá trình phát triển xã hội loài người; mỗi con người cùng nhau hoạt động trong một tổ chức đều đóng những vai trò nhất định để đạt được những mục tiêu chung của nó, tức là công việc mỗi người đảm nhiệm có một mục đích hoặc một một mục tiêu nhất định, các hoạt động đó phù hợp, khớp nối với các hoạt động của những người khác trong tổ chức đó, đồng thời khi con người cùng nhau làm việc trong một tổ chức để thực hiện một mục tiêu chung thì phải cần đến có sự quản lý tổ chức đó.Ủy ban nhân dân Theo Điều 8, Luật tổ chức chính quyền địa phương, ngày 19 tháng 6 năm 2015: UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; UBND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định. UBND được ban hành các quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình; UBND có các cơ quan chuyên môn để giúp thực hiện các chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoạc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Theo Đại từ điển Tiếng việt thì cơ quan chuyên môn là cơ quan chuyên trách một Ngành cụ thể của Nhà nước. Còn theo Từ điển Tiếng việt, cơ quan chuyên môn là cơ quan chuyên trách một ngành công tác của Nhà nước.
Theo 11 từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì cơ quan chuyên môn thuộc UBND được hiểu là cơ quan có nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất quản lý của Ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức và biên chế, công tác của UBND cấp mình đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên theo ngành, lĩnh vực. Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND và cơ quan chuyên môn cấp trên, và khi cần thiết báo cáo công tác trước HĐND. Ngoài ra có ý kiến cho rằng, cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan trực thuộc UBND, có cơ cấu và hoạt động ổn định trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với một số ngành, lĩnh vực nhất định ở địa phương hoặc quan niệm cơ quan chuyên môn là một bộ phận cấu thành của UBND, cụ thể là các Sở, Ban, Ngành của UBND là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý chuyên môn trong phạm vi địa phương mình.
Các cơ quan chuyên môn được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc hai chiều và phụ thuộc vào UBND cùng cấp và cơ quyên môn cấp trên. Theo Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, ngày 19 tháng 6 năm 2015 thì Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp 12 trên. Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn.
Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Cơ cấu các cơ quan chuyên môn Theo Điều 8, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định chức năng nhiệm vụ các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh như sau: - Sở Nội vụ: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; tổ chức hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh niên; thi đua - khen thưởng. - Sở Tư pháp: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; 13 phổ biến, giáo dục pháp luật; pháp chế; công chứng, chứng thực; nuôi con nuôi; trọng tài thương mại; hộ tịch; quốc tịch; lý lịch tư pháp; bồi thường nhà nước; luật sư, tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; giám định tư pháp; hòa giải cơ sở; bán đấu giá tài sản; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật.