CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở ĐÔNG NAM BỘ 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ 1. Điều kiện tự nhiên Miền Đông Nam phần là cách gọi vùng đất Đông Nam Bộ từ năm (1957 – 1975), đây là một khu vực hành chính của chế độ Việt Nam Cộng hòa, trải qua nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính, địa giới và tên gọi. Năm 1957 thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa do Ngô Đình Diệm lãnh đạo, thì miền Đông Nam phần bao gồm 13 tỉnh: Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Phước Thành, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy, Long An và Đô thành Sài Gòn.
Đến thời kỳ Quân quản do các tướng lĩnh trong quân đội Việt Nam Cộng hòa nắm quyền lãnh đạo, thì khu vực hành chính miền Đông Nam phần tạm thời bị xóa bỏ, được trang bị tên gọi về mặt quân sự: theo Vùng chiến thuật và theo Quân khu, tuy nhiên về mặt địa lý vẫn được sử dụng. Đến thời kỳ Đệ nhị Cộng hòa do Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo đã thiết lập lại khu vực hành chính miền Đông Nam phần bao gồm 12 tỉnh: Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy, Long An và Đô thành Sài Gòn cho đến năm 1975. Địa hình của Đông Nam Bộ nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa các vùng: Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Là nơi hội tụ của các địa hình với nhau như: miền núi, trung du,… vừa có đặc điểm địa hình đồng bằng và ven biển với độ dốc thấp dần xuống từ Bắc – Nam, từ Tây – Đông.
Khí hậu vùng Đông Nam Bộ nằm trong khu vực vành đai khí hậu nóng, mang đậm tính chất của kiểu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với mùa mưa và mùa khô thể hiện rõ rệt, miền Đông Nam Bộ có nền nhiệt và độ ẩm cao điều ít thay đổi trong năm. Bên cạnh đó, ở một số khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biển nên khí hậu ôn hòa, mát mẻ. Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến cuối tháng 4 với sự xâm nhập của khối khí tuyến hải dương và tín phong, độ ẩm không khí giảm sút rõ. Hệ thống sông ngòi của vùng Đông Nam Bộ, là một mạng lưới thủy văn tập trung chủ yếu ở các khu vực chính: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn,… Sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ ba ở nước ta, bắt nguồn từ khu vực cao nguyên Lâm Viên với độ cao 1.700 với sự hợp lưu của hai con sông Đa Đưng và Đa Nhim.
Sông Sài Gòn 12 chảy qua các tỉnh: Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, với mạng lưới vô cùng dày đặc thì sông Đồng Nai chia thành hai nhánh chính; sông La Ngà ở hữu ngạn, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông ở tả ngạn. Hệ thống sông Đồng Nai bao gồm: sông Bé, Sông La Ngà, sông Sài Gòn,… Đối với hệ thống sông Sài Gòn có chiều dài là 256km, bắt nguồn từ Campuchia và chảy vào Việt Nam qua vùng núi phía Tây Bắc huyện Lộc Ninh – tỉnh Bình Phước với diện tích lưu vực 5. Kinh tế và xã hội 1. Kinh tế Các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ thời gian đầu sinh sống tại đây chủ yếu bằng nương rẫy và săn bắn hái lượm, về sau các nhóm dân tộc cư trú khác đã đến đây sinh sống và canh tác lúa nước.
Từ đây, vùng đất Đông Nam Bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là canh tác nương rẫy và trồng lúa nước. Kinh tế nương rẫy, du canh, du cư. Bên cạnh đó, đồng bào canh tác rẫy đa canh, với cách xen canh các loại cây trồng khác: vùng ngoài rẫy được trồng một số loại cây trồng dây leo để lấy quả làm thực phẩm như: bầu, bí, mướp, đậu ván, đậu rồng,… tiếp theo là vài hàng cây sắn nhằm bảo vệ khu vực trồng cây lương thực bên trong. Ngoài ra, có lúc còn xen canh cây lúa cạn với vừng, kê, ngô,… Kinh tế ruộng nước (lúa nước) đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ đã dần xuất hiện đối với người: Khmer, Châu ro, S’tiêng,… Hoạt động nông nghiệp lúa nước như sau: “Kỹ thuật canh tác ruộng nước cũng khá đơn giản.
Cây cỏ trong các thửa ruộng ngập nước một thời gian bị úng rã và đất ruộng mềm nhão. Trâu, bò được lùa xuống ruộng để giẫm đạp. Sau đó, nước ruộng tháo cạn một ít, chỉ còn lại xâm xấp mặt ruộng và người ta gieo sạ lúa giống. Khoảng một tuần sau lúa nảy mầm và xanh tốt.
Nước được đưa vào ruộng ngập chân lúa trong suốt thời gian lúa làm đồng cho đến khi lúa chín.” (Hà Minh Hồng và Nguyễn Văn Hiệp, 2014, tr. Về năng suất, lúa nước đem lại thành quả về sản lượng tốt hơn lúa rẫy và đỡ tốn công sức chăm sóc, kỹ thuật canh tác khá đơn giản, mỗi năm đồng bào các dân tộc thiểu số chỉ cần làm một mùa vào thời gian có mưa. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết cũng là một phần quan trong việc canh tác. 13 Hoạt động săn bắn và hái lượm, là một loại hình kinh tế đã xuất hiện từ thời nguyên thủy ở vùng Đông Nam Bộ, vẫn được duy trì đối với đồng bào các dân tộc thiểu số tại đây.
Vùng đất Đông Nam Bộ là một vùng rộng lớn với rừng núi, nhiều sông suối, lâm sản và động vật hoang dã,… vì vậy, hoạt động săn bắn hái lượm ở đây khá phát triển. Các hoạt động kinh tế truyền thống như: thủ công nghiệp, chăn nuôi…. trên nguyên tắc thủ công nghiệp vẫn chưa thoát khỏi hoạt động nông nghiệp, mục đích được sản xuất nhằm phục vụ con người, sản phẩm cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình như: nghề dệt, nghề gốm, nghề đan mê tre,… mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu, hoạt động kinh tế giữa các vùng còn hạn chế. Về chăn nuôi, khác với người Kinh, đồng bào các dân tộc thiểu số chăn nuôi gia súc: trâu, bò, heo, gà,… chỉ để phục vụ dịp lễ: cưới xin, tang ma, tiếp đãi khách quý,… 1.
Xã hội Về xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ trong quá trình lịch sử, được thể hiện trong cơ cấu gia đình, dòng họ và cộng đồng: bon, plei, sóc,… Đối với gia đình dòng họ: đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ vẫn duy trì cách tính mối quan hệ huyết thống như sau: mẫu hệ và phụ hệ. “Các dân tộc Châu Ro, Mơ Nông tính dòng họ theo phía mẹ (mẫu hệ), còn dân tộc Mạ tính dòng họ theo phía cha (phụ hệ). Riêng dân tộc Stiêng phân thành hai nhóm, nhóm Stiêng Bùlơ (vùng cao) theo phụ hệ, còn Stiêng Bùđek (vùng thấp) theo mẫu hệ. Người Chăm theo mẫu hệ và người Khmer theo phụ hệ…” (Hà Minh Hồng và Nguyễn Văn Hiệp, 2014, tr.
Trong đó, dòng họ là mối quan hệ thân tộc như sau: huyết thống trực hệ gồm, ông bà, cha mẹ trở lên và mối quan hệ thân tộc còn lại gồm, anh chị em. Đối với cộng đồng: bon, plei, sóc: đây là một hình thái xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ. Đứng đầu các (làng) bon, plei, sóc là người “chủ làng” đối với người Việt, đồng bào các dân tộc thiểu số thường gọi “Tom bon”, “Tom plei” có nghĩa là “cái gốc của làng”. Thông thường, “Tom bon” là các bậc cao niên, am hiểu về phong tục tập quán, có uy tín và được tín nhiệm trong cộng đồng dân cư; “Tom bon” có nghĩa vụ và trách nhiệm: quản lý các vấn đề xung đột mâu thuẫn cá nhân và giữa các gia đình, xử phạt những người vi phạm luật tục, quản lý các vùng đất, nguồn nước tưới tiêu, chia đất đai cho các gia đình và xác nhận quyền sở hữu đất đai cho các gia đình,… Ngoài ra, “Tom bon” còn tham gia “Hội đồng già 14 làng”, đây là một hệ thống điều hành quản lý và tư vấn cho các “Tom bon” trong công việc đối với cộng đồng làng.
Trong các bon, plei, sóc thường có những người chuyên lo việc cúng bái các thần linh,… Tức là thầy cúng, thầy bói, thầy phù thủy và một số đồng bào dân tộc thiểu số gọi là “Prăk”, “Hum”, “Pơdâu”,… Những người này được cho là có thể giao tiếp với thần linh hoặc xứ giả của thần linh, sẽ giúp cho các bon, plei, sóc tránh các việc như: dịch bệnh, tai họa, ma quỷ,… và trị bệnh. Tại các bon, plei, sóc ở Đông Nam Bộ, ngoài thầy cúng ra thì các bà mụ đỡ đẻ (lo việc sanh nở) cho các sản phụ rất được kính trọng. Cuối cùng, tất cả các thành viên sống trong các (làng), bon, plei, sóc điều phải tự giác thực hiện các nghĩa vụ: thực hiện nghiêm phong tục tập quán, nghi lễ chung, tham gia các hoạt động của làng, lên án những người vi phạm luật tục của làng, ra sức bảo vệ danh dự cho làng, kiên quyết trừng trị những người khác vi phạm ranh giới của làng mình, tự ý khai thác sản vật trên đất làng,…. Luật tục của các (làng) bon, plei, sóc tuy khác nhau, nhưng chức năng chính là duy trì mối quan hệ, cách ứng xử giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với các làng khác.
Đối với đời sống: đến giữa thế kỷ XIX, đời sống xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ đang ở trong giai đoạn cuối của thời kỳ tan ra nguyên thủy hoặc hình thái xã hội tiền giai cấp,…vì thế việc chiếm hữu hoặc sở hữu đất đai của các cá nhân không được diễn ra, mà thông qua các “Tom bon” phân chia định kỳ cho các thành viên và gia đình canh tác, một vài nơi được sử dụng lâu dài và để lại cho thế hệ sau tiếp tục canh tác nhưng không được mua bán, sang mượn. Từ đó thấy được, xã hội cộng đồng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ vẫn chưa diễn ra hình thức bóc lột, chưa có sự phân hóa giai cấp,… quyền sở hữu chiếm hữu tập thể tiếp tục được duy trì thông qua các luật tục của các bon, plei, sóc mà đứng đầu là “Tom bon” điều hành quản lý.