Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh hình thành đề tài Rừng tự nhiên che phủ phần lớn diện tích bề mặt trái đất, theo thời gian tác động tích cực và tiêu cực của con người như khai thác lâm sản, canh tác nông nghiệp, đô thị hóa, phát triển kinh tế… đã làm diện tích rừng tự nhiên giảm đáng kể. Thật vậy, trong vòng 5 năm (1990-1995) các nước đang phát triển có hơn 65 triệu ha rừng bị mất, tính đến năm 2000, diện tích rừng toàn thế giới chỉ còn 3.869,5 triệu ha (SFMI, 2007), tỷ lệ che phủ chỉ chiếm 29,6%. Ở Việt Nam, diện tích rừng khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ là 43% vào năm 1943, gần 60 năm sau tổng diện tích rừng cả nước còn 12,6 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 30% (Bộ NN & TPNT, 2003), trong đó phải tính cả diện tích cây công nghiệp dài ngày như cao su, điều. Trung bình đất rừng giảm gần 30 ngàn ha mỗi năm và chưa tính đến những hệ lụy từ sự mất cân bằng sinh thái tự nhiên này.
Dân cư sinh sống ở các vùng rừng núi khoảng 25 triệu người, hơn ¼ dân số cả nước. Vì vậy, đảm bảo tỷ lệ che phủ và sinh kế cho dân cư ở vùng ven rừng là rất quan trọng trong chiến lược lâm nghiệp của quốc gia. Những năm gần đây, nổ lực của nhà nước, nhân dân, và các tổ chức quốc tế đã và đang triển khai các phương án phục hồi và quản lý rừng hiệu quả như quản lý rừng cộng đồng (Huy, 2008; Phong, 2008), khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số gần rừng (Anh, 2009). Song vấn đề phá rừng, mất rừng vẫn đang diễn ra đồng thời, nên nếu rừng không được quản lý hợp lý thì mọi nổ lực phục hồi rừng sẽ thất bại.
Mục 9 tiêu quản lý rừng bền vững phù hợp với điều kiện cụ thể là bài toán cấp bách của các cấp quản lý. Tỉnh Đồng Nai, một trong những tỉnh rất chú trọng đến quản lý bảo vệ rừng trong phát triển kinh tế, với diện tích đất lâm nghiệp là 177.438ha chủ yếu phân bố ở phía Bắc của tỉnh, diện tích rừng tự nhiên vẫn còn đến 70% diện tích đất có rừng ( Sở NN&PTNT, 2008). Với mục tiêu phát triển rừng bền vững và đảm bảo giá trị rừng trong bối cảnh phát triển kinh tế ngày một cao, tỉnh Đồng Nai đưa ra mục tiêu giữ được rừng tự nhiên hiện hữu và tăng giá trị của rừng tự nhiên bằng công cụ pháp lý phù hợp với tình hình từng khu vực. Một cách thực tế, tình hình quản lý ở ban Quản Lý rừng phòng hộ Tân Phú là rất điển hình và được chọn lựa cho nghiên cứu này.
Rừng phòng hộ Tân Phú có diện tích gần 14 ngàn ha, được phân loại là rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Trị An, chủ yếu là rừng tự nhiên chiếm 82%. Mặc khác, theo kết quả rà soát quy hoạch lại ba loại rừng toàn tỉnh Đồng Nai (Chỉ thị số 38/2005/CT- TTg), phần diện tích đất rừng sử dụng chưa đúng mục đích và bị lấn chiếm để canh tác nông nghiệp trên toàn tỉnh là 13.433ha, và gần 4.000 hộ gia đình bị ảnh hưởng với hơn 7. Trong đó rừng phòng hộ Tân Phú, diện tích đang chịu áp lực lấn chiếm để sản xuất nông nghiệp là 1.565,67ha với 787 hộ gia đình bị ảnh hưởng. Giải quyết bài toán vừa ổn định sinh kế người dân vừa đạt mục đích quản lý bảo vệ rừng bền vững phù hợp với chủ trương chính sách của nhà nước khá là cấp thuyết của Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Ban Quản Lý rừng phòng hộ Tân Phú (BQL), và UBND xã Gia Canh huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.2 Vấn đề nghiên cứu Sinh kế của người dân sống trong vùng ven rừng sẽ bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một biến động nào của tài nguyên, đặc biệt là biến động của chính sách quản lý tài nguyên đó (FAO,1993).
Hiện nay, thu nhập từ trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng là thấp không đủ chi tiêu cơ bản cho cuộc sống của hộ gia đình nhận khoán. Thu nhập từ khoán bảo vệ rừng đối với người dân chỉ là phần phụ, thu nhập chính của họ là sản xuất nông nghiệp trên một phần trong diện tích đất được giao. Vấn đề quản lý không chặt chẽ của BQL hay thiếu đất sản xuất nông nghiệp dẫn đến các hộ dân chặt phá rừng trồng hoa màu, trồng cây ăn trái. Theo báo cáo của BQL, cuối 2008 diện tích chịu áp lực lấn chiếm là hơn 1.240ha và bị lấn chiếm là 70ha, với khoảng hơn 14.774 cây rừng (Cây Teak) bị “thuốc”1 chết.
Gần đây, chỉ trong hai tháng đầu năm 2010 có tới 1.336 cây Teak bị “thuốc” chết nâng tổng số cây Teak chết là 19.489 cây, tương ứng với diện tích bị lấn chiếm là 109ha (BQL, 3/2010). Tình trạng này cũng dược nhiều báo đài phản ảnh trong thời gian qua trên phương tiện thông tin đại chúng (xem phụ lục 3). Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sau quy hoạch ba loại rừng là một việc làm cần thuyết trong việc quản lý bảo vệ rừng theo chủ trương chính sách của Chính phủ. Điều này sẽ tác động không nhỏ đến sinh kế người dân, di dời nhà ra khỏi khu vực rừng, mất việc làm, giảm thu nhập là bài toán khó cho cả người dân và chính quyền địa phương.
Mâu thuẫn càng đẩy lên cao khi người dân không muốn di dời ra khỏi rừng và vấn đề chặt phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp đang diễn ra. Như 1 Người dân “bỏ thuốc” cây teak làm cho cây chết đi, sau một thời gian sẽ đốn ngã lấy đất sản xuất nông nghiệp 11 vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào giải quyết sinh kế cho người dân gắn với mục tiêu quản lý bảo vệ rừng hướng đến quản lý rừng bền vững tại rừng phòng hộ Tân Phú nói riêng và các khu rừng phòng hộ và đặc dụng khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói chung.3 Mục tiêu nghiên cứu Tình huống trong nghiên cứu này tại rừng phòng hộ Tân Phú, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai với mục tiêu chính là tìm ra chính sách giải quyết mâu thuẫn giữa sinh kế của người dân và nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng của BQL cùng chính quyền địa phương. Để giải quyết bào toán chính sách trên, nghiên cứu cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau: (i) Hiểu rõ hiện trạng, hoạt động sinh kế của các hộ gia đình và chính sách quản lý rừng của địa phương thuộc vùng nghiên cứu; (ii) Tìm hiểu các nguyên nhân gây nên việc phá rừng để lấn chiếm đất rừng hiện nay tại rừng phòng hộ Tân Phú như đã đăng tin trên các phương tiện truyền thông; (iii) Tìm hiểu các chính sách giải quyết vấn đề lấn chiếm đất rừng và giải pháp ổn định sinh kế cho người dân gắn với quản lý rừng bền vững của cấp quản lý nhà nước. Từ đó chọn lựa các chính sách bổ sung khả thi cho việc ổn định sinh kế người dân gắn với mục tiêu quản lý bảo vệ rừng bền vững; và 12 (iv) Xem xét phản ứng của dân cư sinh sống trong khu vực lấn chiếm đối với các đề xuất chính sách do cấp quản lý đưa ra.
Và tìm hiểu thêm về nguyện vọng, nhu cầu của người dân khi chính sách trên được thực hiện. Các mục tiêu nêu trên cần được làm rõ để tìm ra chính sách khả thi bổ sung cho các chính sách quản lý hiện hành tại vùng nghiên cứu.4 Câu hỏi nghiên cứu Từ mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu sẽ được tìm hiểu và trả lời một cách thỏa đáng, góp phần vào việc giải quyết khó khăn hiện tại mà BQL đang gặp phải. Các câu hỏi nghiên cứu cần thuyết để giải quyết các mục tiêu đề ra là: (i) Hiện trạng tài nguyên, môi trường, sinh thái rừng phòng hộ Tân Phú. Chính sách quản lý hiện tại như thế nào? Người dân sinh sống ra sao? (ii) Tình hình lấn chiếm đất rừng trong những năm gần đây? Những nguyên nhân gây ra việc lấn chiếm đất rừng hiện nay của người dân? (iii) Chính sách nào có thể có nhằm ổn định sinh kế cho người dân gắn với mục tiêu quản lý rừng bền vững? Mức độ khả thi của chính sách đề xuất phù hợp với tiêu chí quản lý rừng hiện hành của các cấp quản lý ở vùng nghiên cứu? (iv) Người dân phản ứng ra sao đối với chính sách đề xuất trên? Họ có nhu cầu, nguyện vọng gì khi các chính sách này được thực hiện? Vấn đề kết hợp nguyện vọng của người dân vào chính sách đề xuất có hiệu quả ra sao? 1.5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 1.1 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Chính sách quản lý thỏa đáng giữa BQL rừng phòng hộ Tân Phú đối với những khu vực lấn chiếm hiện hữu.
Nghiên cứu chỉ khảo sát hai nhóm đối tượng chịu tác động lớn là cấp quản lý nhà nước ra quyết định chính sách và 13 người dân thi hành chính sách, mà không khảo sát ảnh hưởng của nhóm kinh doanh và nhóm nghiên cứu khoa học tại vùng nghiên cứu, hay những đối tượng khác.2 Giới hạn nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào thu thập, tổng hợp các nguồn dữ liệu sơ cấp, thứ cấp và các nguồn khác. Hơn nữa, sự hợp tác của các đơn vị quản lý nhà nước vùng nghiên cứu, sự hợp tác của người dân trong quá trình điều tra cũng là một khó khăn khi tiếp cận với các thông tin nhạy cảm cần được họ cung cấp. Nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất chính sách bổ sung có hiệu quả để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu sẽ đem lại giá trị tham khảo về chính sách cho cơ quan quản lý lâm nghiệp vùng nghiên cứu.
14 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu sử dụng phương pháp thiết kế điều tra khảo sát, phỏng vấn đối tượng tham gia kết phân tích chính sách đa mục tiêu. Cụ thể là xác định các mục tiêu chính sách sau đó tổng hợp thông tin từ các nhóm đối tượng đại diện và kết hợp với quan sát thực địa. Từ đó rút ra các ý kiến chính, các điểm đồng thuận về đề xuất chính sách trong một thời gian xác định, và cuối cùng sử dụng các mục tiêu chính sách lâm nghiệp hiện hành phân tích các đề xuất chính sách đưa ra để chọn lựa chính sách phù hợp.1 Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu được xây dựng trên chiến lược tìm hiểu và thiết kế theo phương pháp điều tra khảo sát, phỏng vấn đối tượng tham gia áp dụng vào nghiên cứu tình huống.