CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng 1. Nghiên cứu về trường cao đẳng Nghiên cứu về trường cao đẳng đã được nhiều học giả quan tâm và được tiếp cận ở các góc độ khác nhau, đơn cử như: Nghiên cứu của Mai Văn Tỉnh và nghiên cứu sinh Mary Berth Marklein, Mĩ (2018), trong công trình Hướng dẫn nghiên cứu so sánh quốc tế về mô hình Cao đẳng Cộng đồng và các đối tác toàn cầu [102], đã nghiên cứu về mô hình trường cao đẳng cộng đồng.
Trong đó các tác giả nghiên cứu xuất xứ của mô hình và số lượng các trường cao đẳng thuộc mô hình trường cao đẳng cộng đồng. Về xuất xứ, mô hình trường cao đẳng cộng đồng có xuất xứ ở Hoa Kỳ từ giữa thế kỷ XX, với triết lý kép “phát triển nhân đạo và phát triển kinh tế” đã được ứng dụng và lan tỏa ra nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là các nước vòng cung châu Á-Thái Bình Dương. Về quy mô, theo thống kê, mô hình trường cao đẳng cộng đồng ở Việt Nam có 17 trường; 217 trường cao đẳng (trực thuộc Bộ GD&ĐT và các Bộ ngành liên quan) và 190 trường cao đẳng nghề (do Bộ LĐTB&XH quản lý). Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Mỹ Loan (2014), đã nghiên cứu đề tài Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long [60].
Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích những vấn đề dưới góc độ quản lý nhà nước về phát triển (số lượng, chất lượng và cơ cấu) đội ngũ giảng viên trường cao đẳng công lập nghề để đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển mạng lưới các trường cao đẳng vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, tác giả đã làm rõ tính cấp thiết phải phát triển và quản lý đội ngũ giảng viên cho phù hợp yêu cầu phát triển các trường cao đẳng nghề tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Nghiên cứu của tác giả Khổng Hữu Lực (2015), đã nghiên cứu đề tài Quản lí quá trình đào tạo nghề công nghệ thông tin trình độ cao đẳng tiếp cận đảm bảo chất lượng [62], đã chỉ ra rằng: Để nâng cao chất lượng trường cao đẳng công lập hiện nay cần giải quyết hai vấn đề liên quan là lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận: Hệ thống hóa lí thuyết về quản lý chất lượng trong đào tạo, vận dụng vào việc quản lý đào tạo nghề công nghệ thông tin trình độ cao đẳng, góp phần phát triển lí luận về quản lí đào tạo và 11 Luận án tiên sĩ Quản lý công quản lý chất lượng các nghề về công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực về công nghệ thông tin. Về mặt thực tiễn, xây dựng khung lý thuyết về quản lý đào tạo nghề công nghệ thông tin, bao gồm: khung tham chiếu các nội dung quản lí, các quy trình thực thi nội dung công việc theo khung tham chiếu trong quản trị đào tạo nghề công nghệ thông tin trình độ cao đẳng.
Đề xuất một số giải pháp, nhóm giải pháp thiết thực trong việc quản lý quá trình đào tạo nghề công nghệ thông tin trình độ cao đẳng, bao gồm: nhóm giải pháp về nội dung và nhóm giải pháp về quản lý quá trình đào tạo nghề công nghệ thông tin trình độ cao đẳng. Tổ chức thử nghiệm thành công một số giải pháp về quản lý quá trình đào tạo nghề công nghệ thông tin trình độ cao đẳng tiếp cận đảm bảo chất lượng tại trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Từ góc độ nghiên cứu thực tiễn, tác giả Khổng Hữu Lực (2014), trong bài viết “Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội trong bối cảnh hiện nay" [61], đã đánh giá: Chất lượng đào tạo nghề mặc dù ngày càng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động: kĩ năng nghề, năng lực nghề nghiệp của lao động Việt Nam vẫn còn có khoảng cách lớn so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Do đó, biện pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội là: Xác định được nhu cầu ngành nghề và nội dung cần đào tạo; về đội ngũ cán bộ giảng viên; công tác tuyển sinh và việc làm; quản lý đào tạo; dạy học tích hợp trong đào tạo nghề; tăng cường việc hợp tác quốc tế.
Tác giả Trần Khánh Đức (2018), trong nghiên cứu “Vai trò và sứ mạng của các trường cao đẳng kỹ thuật trong đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao đẳng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0”, Viện Khoa học giáo dục nghề nghiệp [25], đã phân tích nhu cầu đổi mới tư duy và hình thành triết lý giáo dục mới trong xã hội hiện đại; phân tích các đặc trưng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; vai trò và sứ mạng của các trường cao đẳng kỹ thuật trong sự nghiệp đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tác giả khẳng định: Các trường cao đẳng kỹ thuật không chỉ là nơi hình thành ý tưởng kỹ thuật và công nghệ thực tiễn mà đang thực sự là “công xưởng” cho ra đời các giải pháp, sản phẩm kỹ thuật, công nghệ và quản lý hiện đại, chất lượng cao trong nhiều lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ số, công nghệ vật liệu mới; công nghệ quản trị hiện đại. Tác giả Ngô Quang Trường (2015), trong nghiên cứu “Đổi mới giáo dục đại học: cần bắt đầu từ chất lượng giảng viên” [103] cho rằng, Việt Nam có nhiều trường đại học, cao đẳng, tính bình quân mỗi tỉnh có 07 trường, trừ Hà Giang chưa có đại học 12 Luận án tiên sĩ Quản lý công nào. Đồng nghĩa với việc này là số lượng giảng viên tăng lên tương ứng, tuy nhiên việc tăng chất lượng giảng viên không thể ra lò nhanh như thành lập một trường đại học, dẫn đến ngoại trừ 04 các trường đại học lâu đời có uy tín trước đây, còn lại đa số các trường đại học mới thành lập đều thiếu hụt đội ngũ giảng viên đủ chuẩn về học vị, năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học.
Chính nguyên nhân này khiến cho uy tín, chất lượng đào tạo của một số trường bị suy giảm, ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh. Theo tác giả đội ngũ giảng viên chính là “máy cái’, là “chìa khóa’ để mở cánh cửa chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng. Nghiên cứu về đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng Tiêu biểu cho nhóm công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của giảng viên như: Phillip G. Dù cách tiếp cận có khác nhau, nhưng các tác giả đều có chung nhận xét rằng giảng viên là người truyền thụ các kiến thức tinh hoa của nhân loại, đồng thời là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn sinh viên lĩnh hội tri thức một cách chủ động và sáng tạo.
Giảng viên còn là nhà giáo dục, người định hướng nghề nghiệp cho sinh viên trong tương lai, góp phần trực tiếp, tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên. Nghiên cứu của Robet J.Marzano (2003), trong cuốn “What Works in Schools?” (Làm các công việc gì trong trường học?) [141], đã đề cập tới vấn đề giảng viên tại các trường học chính là nhân tố có tác động lớn nhất đến kết quả học tập của người học. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ giảng viên lớn mạnh, tạo mọi điều kiện để họ phát huy năng lực sáng tạo dạy và học sẽ nâng cao hiệu quả, thành tích tốt hơn cho người học. Theo Kalninsh trong Information didactical space of personality-professional self-development of a teacher (Không gian thông tin - thực tế của sự phát triển bản thân về tính chuyên nghiệp của một giáo viên) cho rằng: Trong những thập kỷ gần đây các yêu cầu đối với một giảng viên đã thay đổi rất nhiều.
Một giảng viên ngày nay không còn là truyền đạt lại thông tin; với sự phát triển của công nghệ thông tin, giảng viên phải là một gia sư, chuyên nghiệp với mục đích là giúp người học tìm và chọn các thông tin một cách dễ dàng và biến nó thành kiến thức của mình; trong thời gian ngắn cần làm chủ các tri thức mới; thay đổi tư duy, tầm nhìn của quá trình giảng dạy. Giảng viên phải trở thành nhà thiết kế, là tác giả của chương trình; có thể mang lại thành tựu 13 Luận án tiên sĩ Quản lý công cho sinh viên của họ; có thể sử dụng các giải pháp công nghệ trong công việc giảng dạy của mình một cách có hiệu quả để giải quyết nhiều nhiệm vụ khác khó khăn hơn. Cũng cùng quan điểm đó, các trường đại học Mỹ đã đưa ra 05 điểm cốt lõi về chuẩn giảng viên: Hết lòng với sinh viên trong học tập; có kiến thức sâu về môn dạy, biết cách diễn đạt dễ hiểu nhất và liên kết các môn học với nhau một cách hệ thống; có tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy, quản lý lớp học, thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc học của sinh viên một cách có hiệu quả; có tư duy sáng tạo, phát triển kinh nghiệm dạy và học; luôn chia sẻ, phối hợp với các đồng nghiệp và với gia đình các sinh viên để tạo hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập. European Commission (Ủy ban châu Âu) (2010), trong tác phẩm Teachers’ Professional Development – Europe in international comparison (Phát triển chuyên môn của giáo viên – so sánh quốc tế và khu vực châu Âu) [126] cho rằng: Coi trọng phát triển chuyên môn giảng viên là cách để nâng cao hiệu quả giáo dục.
Cụ thể là làm tăng hiệu quả giảng dạy, củng cố năng lực chuyên môn liên tục cho giảng viên. Ủy ban châu Âu cũng cho rằng môi trường làm việc của giảng viên ngày càng phức tạp, các giảng viên cần phấn đấu để trang bị cho sinh viên một loạt các kỹ năng mà họ sẽ cần trong một thế giới liên tục phát triển. Để làm được điều này, các giảng viên cần phát triển nhiều phương pháp trong giảng dạy. Người học có xuất phát từ nhiều nền tảng tri thức và kinh nghiệm khác nhau, nên các giảng viên cần được trang bị và cập nhật liên tục về chuyên môn, kỹ năng và các năng lực cần thiết.