đặt vấn đề CPH đối với các NHTMNN trong bối cảnh chuẩn bị tham gia hội nhập quốc tế ngành ngân hàng là điều kiện hết sức cần thiết, quan trọng. Tuy nhiên nhìn chung, CPH NHTMNN là quá trình sẽ khó khăn và phức tạp hơn so với CPH một DNNN thông thƣờng, do NHTMNN có những đặc điểm sau: Đây là lần đầu tiên chính thức đặt ra vấn đề thực hiện CPH một số NHTMNN ở nƣớc ta. Do kinh nghiệm thực tế về việc thực hiện CPH một NHTM là chƣa có. Tất cả các DNNN ngoài khu vực ngân hàng hiện chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật DNNN; Riêng các NHTMNN, ngoài một số nội dung hoạt động đƣợc tuân thủ theo luật DNNN, do có những đặc thù nên về cơ bản là chịu sự điều chỉnh của Luật các TCTD.
Sự khác biệt trong cơ sở pháp lý nhƣ vậy sẽ làm cho việc thực hiện CPH NHTMNN gặp nhiều khó khăn hơn, vì hiện nay văn bản pháp lý về CPH mới chỉ đề cập trực tiếp đến CPH DNNN thông thƣờng. 13 z Hoạt động ngân hàng có độ nhạy cảm cao, liên quan trực tiếp đến quyền lợi và lợi ích của đông đảo ngƣời gửi tiền và các khách hàng nên mọi giải pháp thực hiện CPH có liên quan đều phải cân nhắc kỹ lƣỡng để lựa chọn đúng trên cơ sở đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các khách hàng.Trong cách tính giá trị NHTMNN trƣớc khi CPH, việc xác định giá trị thƣơng hiệu sẽ khó khăn hơn vì sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng và khá trìu tƣợng, không giống nhƣ các sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp thông thƣờng.4 Đặc thù của cổ phần hoá NHTM NN Thứ nhất, hoạt động ngân hàng là hoạt động có độ nhạy cảm cao, ảnh hƣởng lớn đến nền kinh tế. Cho nên việc cổ phần hóa các NHTM NN phải đƣợc tiến hành nhƣ thế nào để không làm xáo trộn hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng nhƣ ảnh hƣởng đến toàn bộ nền kinh tế là một trong các yêu cầu hàng đầu về CPH các NHTM NN. Chính vì đặc thù này, trong quá trình CPH các NHTM NN, ban đầu, vốn nhà nƣớc vẫn phải chiếm tỷ lệ chi phối nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng sau CPH.
Việc thiết kế bộ máy tổ chức, cơ chế quản lý đối với NHTM NN sau CPH cũng là vấn đề cần tính toán kỹ để tạo đƣợc bộ máy và cán bộ phù hợp để không những không tác động xấu hoạt động ngân hàng mà còn tạo đƣợc bƣớc phát triển mạnh và đạt đƣợc mục tiêu CPH. Thứ hai do đặc thù các hoạt động ngân hàng liên quan rất nhiều đến khách hàng gửi và vay tiền tại ngân hàng, nên việc cổ phần hoá NHTM phải có những bƣớc đi cẩn thận hơn để không ảnh hƣởng đến quyền lợi ngƣời gửi và ngƣời vay tiền. Đặc điểm này đã dẫn đến việc xác định và xử lý các khoản phải thu, phải trả trong quá trình xử lý tài chính cho CPH của các NHTM khác với DNNN thông thƣờng khác. 14 z Thứ ba việc xác định giá trị doanh nghiệp của các NHTM NN cũng có những đặc thù riêng, do hệ thống mạng lƣới của ngân hàng thƣờng lớn, trải rộng trên nhiều khu vực khác nhau, tài sản có, tài sản nợ của ngân hàng cũng không giống với các doanh nghiệp thông thƣờng nên việc định giá thƣờng phức tạp hơn.
Hơn nữa việc xác định giá trị thƣơng hiệu sẽ khó khăn hơn vì sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đa dạng và khá trừu tƣợng, không giống nhƣ sản phẩm hàng hoá của các DNNN khác. Thứ tư, ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, một lĩnh vực cũng đặc biệt trong nền kinh tế. Khác với các DNNN thông thƣờng khác, hoạt động ngân hàng chịu sự điều chỉnh, chi phối bởi một hệ thống luật pháp riêng. Các NHTM NN do có những đặc thù riêng nên về cơ bản là chịu sự điều tiết của Luật các tổ chức tín dụng.
Sự khác biệt trong lĩnh vực kinh doanh và cơ sở pháp lý nhƣ vậy sẽ làm cho việc CPH NHTM có những khó khăn, vƣớng mắc do hiện nay, các văn bản pháp lý về CPH mở chỉ đề cập trực tiếp tới các DNNN thông thƣờng. Nói tóm lại, CPH NHTM NN có những đặc điểm riêng khác biệt với CPH các DNNN thông thƣờng khác do đặc thù hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Ở Việt Nam, chƣa có tiền lệ về CPH N/HTM NN nên trong quá trình CPH các NHTM NN ở Việt Nam cần có những bƣớc đi thận trọng nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của các NHTM NN sau CPH đồng thời đạt đƣợc những mục tiêu của CPH là nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM NN nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu hội nhập trong giai đoạn hậu WTO. Kinh nghiệm CPH NHTMNN ở một số Quốc gia trên thế giới 1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc về CPH NHTMNN Hệ thống ngân hàng vẫn đƣợccoi là một trong những điểm yếu nhất của nền kinh tế Trung Quốc, khiến cho việc tăng trƣởng kinh tế của Trung Quốc gặp rủi ro.Trong nhiều năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã dành sự ƣu tiên 15 z đặc biệt đối với cuộc cải cách hệ thống ngân hàng, trƣớc hết là các ngân hàng thƣơng mại quốc doanh (NHTMQD) nhằm bảo đảm cho Trung Quốc có thể duy trì đƣợc tốc độ tăng trƣởng kinh tế.
Trung Quốc đã tiến hành hàng loạt các biện pháp nhằm lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng, chuẩn bị cho kế hoạch cổ phần hoá các NHTMQD trƣớc khi Trung Quốc mở cửa toàn bộ khu vực tài chính ngân hàng vào năm 2011 theo cam kết với Tổ chức Thƣơng mại thế giới. Công việc trƣớc tiên mà Trung Quốc chú trọng là cải thiện tình hình tài chính của các NHTMQD trƣớc khi tiến hành cổ phần hoá thông qua các biện pháp xử lý nợ khó đòi và các đợt tiếp thêm vốn cho các ngân hàng. Trong vòng 5 năm kể từ khi đƣợc Chính phủ thành lập chỉ có một công ty quản lý tài sản (AMC) tổ chức thành công hai lần bán đấu giá quốc tế các khoản nợ khó đòi và số nợ đƣợc xử lý chỉ bằng 35% tổng số nợ đƣợc chuyển giao với tỉ lệ thu hồi vốn vào khoảng 17,3% so với giá trị ban đầu của khoản nợ. Vì vậy vẫn còn tới hàng trăm tỉ USD nợ khó đòi đang đƣợc treo trên sổ sách của các NHTMQD.
Mới đây, Công ty quản lý tài sản nhà nƣớc Cinda của Trung Quốc đã mua vào 33,7 tỉ USD (278,7 tỉ CNY) nợ xấu từ Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc khi 2 ngân hàng này chuẩn bị niêm yết cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán. Vào năm 2010, Bộ Tài chính đã tiếp thêm 270 tỉ CNY cho các NHTMQD nhƣng cũng không giải quyết đƣợc vấn đề. Đồng thời quỹ an toàn vốn đặc biệt đã đƣợc thành lập để nâng tỷ lệ an toàn vốn cho 4 NHTMQD, nhƣng trong vòng 5 năm qua, các ngân hàng này cũng chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu này. Đợt tiếp thêm vốn và xoá nợ gần đây nhất trị giá 1.670 tỉ CNY (200 tỉ USD) cũng chƣa đủ để giúp 4 NHTMQD Trung Quốc thoát khỏi gánh nặng nợ khó đòi.
16 z Nhƣ vậy, chi phí để cứu trợ các ngân hàng Trung Quốc đã là khá lớn nếu so sánh với tổng chi phí ƣớc tính từ 145 tỉ USD đến 175 tỉ USD mà Mỹ đã phải bỏ ra trong chƣơng trình cứu trợ các ngân hàng tiết kiệm khỏi bị sụp đổ vào thập kỷ 80. Uỷ ban giám sát ngân hàng Trung Quốc (CBRC) đã từng đặt kế hoạch mỗi năm giảm từ 3-4% tỉ lệ nợ khó đòi tại 4 ngân hàng này. Cho đến cuối năm 2012, Uỷ ban này đã thông báo tổng số nợ khó đòi tại 4 ngân hàng này lên tới trên 2011 tỉ CNY (240 tỉ USD), thấp hơn năm 2010 là 81,1 tỉ CNY và giảm đƣợc khoảng 4%. Nhƣng trên thực tế, lƣợng nợ khó đòi cũ giảm đi bằng lƣợng các khoản mới tăng thêm, nên tổng số nợ xấu tại các ngân hàng này không giảm mà đã đƣợc che dấu thông qua sự gia tăng khối lƣợng các khoản cho vay mới.
Thậm chí những dự báo của các nhà phân tích độc lập thì cho rằng con số nợ khó đòi tại 4 NHTMQD Trung Quốc có thể lên tới gần 420 tỉ USD. Những thống kê chính thức cho thấy nợ xấu chiếm khoảng 23% (2011 tỉ CNY) tổng dƣ nợ, nhƣng theo Standard & Poor’s và Moody’s thì tỉ lệ này lên tới 40% (3500 tỉ CNY). Ngân hàng tốt nhất trong số 4 ngân hàng này chỉ đạt tỉ lệ an toàn vốn là 4-5%, đƣợc coi là đã phá sản về mặt kỹ thuật (technical bankrupt). Để đạt đƣợc tỉ lệ an toàn vốn 8% thì 4 ngân hàng này phải cần đến khoảng 500 tỉ CNY.
Đó là lý do tại sao Trung Quốc đang tìm mọi biện pháp để tiếp thêm vốn và niêm yết 4 ngân hàng này trên thị trƣờng chứng khoán, khi WTO yêu cầu Trung Quốc mở cửa các thị trƣờng tài chính vào cuối năm 2012. Cuối tháng 12/2012 Trung Quốc đã quyết định sử dụng dự trữ ngoại tệ quốc gia để tiếp thêm vốn cho các NHTMQD. Trung Quốc đã tiếp thêm 45 tỉ USD – khoảng một phần 10 số dự trữ ngoại tệ quốc gia – cho 2 ngân hàng tốt nhất trong số 4 NHTMQD lớn nhất của nƣớc này là Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc và Ngân hàng Trung Quốc. Tiếp đến sẽ là Ngân hàng Công 17 z thƣơng Trung Quốc nhận khoảng 40 tỉ USD, sau đó kế hoạch tiếp vốn sẽ đƣợc mở rộng sang cho hàng trăm NHTM nhỏ khác của Trung Quốc.
Tổng chi phí của lần tiếp vốn này có thể lên tới 120 tỉ USD. Mục tiêu của kế hoạch tiếp vốn lần này là giúp các NHTM củng cố lòng tin đối với các nhà đầu tƣ trƣớc khi niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán và trở nên năng động hơn trong việc bán thẳng các khoản nợ tồn đọng cho các nhà đầu tƣ mà không phải thông qua các AMC nữa. Trong khi các khoản cứu trợ các ngân hàng đang đƣợc xây dựng thì việc sử dụng dự trữ ngoại tệ đã gây ra nhiều ngạc nhiên. Tính đến nay, hầu hết các khoản tiếp thêm vốn cho các ngân hàng là từ trái phiếu chính phủ hoặc các quỹ trong nƣớc của NHTW Trung Quốc.
Theo Jonathan Anderson – một nhà chiến lƣợc của UBS tại Hồng Kông thì kế hoạch tiếp thêm vốn cho các ngân hàng của Trung Quốc cho đến nay đƣợc thực hiện nhanh là do nó không đòi hỏi phải có những phê chuẩn ƣu tiên từ cơ quan lập pháp và không làm gia tăng các khoản nợ của Chính phủ.