mở đầu cho quá trình chiếm đóng và thống trị ở Đông Nam Á. Cuối năm 1941, bằng trận tập kích ở Trân Châu cảng (Pearl Habor), Nhật Bản chính thức phát động chiến tranh Thái Bình Dƣơng. Sau đó, quân đội Nhật nhanh chóng xâm chiếm Đông Nam Á, thực thi chính sách Nam tiến bằng vũ lực. Đông Nam Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 1.
Đông Nam Á – khu vực địa kinh tế – chính trị quan trọng Trên bản đồ thế giới, Đông Nam Á nằm trong phạm vi từ khoảng 920 đến 1400 kinh đông và từ khoảng 280 vĩ bắc chạy qua xích đạo đến khoảng 150 vĩ nam. Đông Nam Á là một khu vực của châu Á, bao gồm các nƣớc nằm ở phía Nam Trung Quốc, phía đông Ấn Độ và phía Bắc của Úc, rộng 4.047 km² và bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore , Thái Lan và Việt Nam. Vào năm 2004, dân số của cả khu vực lên đến 556.2 triệu ngƣời (số liệu năm 2005), trong đó hơn 1/6 sống trên đảo Java (Indonesia). Đông Nam Á là chỗ giao nhau của nhiều mảng địa chất có núi lửa và động đất hoạt động mạnh.
Các quốc gia của khu vực đƣợc chia ra làm hai nhóm chính: Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam nằm ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi bán đảo Trung Ấn, trong khi đó các nƣớc còn lại tạo nên Quần đảo Malaysia. Quần đảo này đƣợc hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc về vành đai núi lửa Thái Bình Dƣơng và là một trong những khu vực có hoạt động núi lửa mạnh nhất thế giới. Trong 11 nƣớc Đông Nam Á, thì có 10 quốc gia có hải giới, trừ Lào; Philippines và Singapore là 2 nƣớc trong khu vực này không có địa giới chung với bất kỳ quốc gia nào. Ý niệm về Đông Nam Á nhƣ một khu vực riêng biệt đã có từ lâu.
Song cùng với thời gian, khái niệm này ngày càng đƣợc hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn. Ngƣời Trung Quốc xƣa kia thƣờng dùng từ “Nam Dƣơng” để chỉ những nƣớc nằm trong vùng biển phía Nam. Ngƣời Nhật gọi vùng này là “NanYo”. Ngƣời Ả Rập xƣa gọi vùng này là “Qumr”, rồi lại gọi là “Waq – Waq” và sau này chỉ gọi là “Zabag”.
19 Còn ngƣời Ấn Độ từ xƣa vẫn gọi vùng này là “Suvarnabhumi” (đất vàng) hay “Suvarnadvipa” (đảo vàng). Tuy nhiên đối với các lái buôn thời bấy giờ, Đông Nam Á đƣợc nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hƣơng liệu gia vị và những sản phẩm kì lạ khác, còn sinh sống ở đây là những con ngƣời thành thạo và can đảm. Đông Nam Á có một vị trí đặc biệt quan trọng trên đƣờng giao lƣu quốc tế. Nó “nằm trọn” giữa hai đại dƣơng lớn: Thái Bình Dƣơng và Ấn Độ Dƣơng.
Eo Malacca, có ngƣời ví nhƣ kênh đào Suez, nối biển Đông với biển Andaman thuộc Ấn Độ Dƣơng, trở thành cửa ngõ trên tuyến đƣờng hàng hải quốc tế, nối liền Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) với Tây Âu và châu Phi. Đông Nam Á nằm gần hai quốc gia lớn nhất phƣơng Đông: Trung Quốc, Ấn Độ. Qua đƣờng biển, các nƣớc Đông Nam Á còn nằm gần siêu cƣờng quốc kinh tế Nhật Bản. “Chỗ đứng” nhƣ vậy làm cho Đông Nam Á từ xa xƣa đã trở thành một khu vực quan trọng, có ý nghĩa chiến lƣợc cả về kinh tế lẫn quân sự.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều ngƣời đã coi Đông Nam Á nhƣ là một “hành lang” hay một “chiếc cầu nối Đông – Tây”. Giáo sƣ Sakurai Yumio có một nhận xét rất thú vị rằng trên quả địa cầu có ba đại dƣơng chính tạo thành biên giới phân chia đất liền thành các lục địa mà mỗi lục địa có thể coi là một thế giới (World). Trƣớc thế kỷ XIV, các nhà hàng hải không có một con đƣờng biển nào nối thông Thái Bình Dƣơng với Đại Tây Dƣơng cũng nhƣ Ấn Độ Dƣơng với Đại Tây Dƣơng. Trong khi đó ở Đông Nam Á có một số kênh nối thông Ấn Độ Dƣơng với Thái Bình Dƣơng, chẳng hạn nhƣ eo biển Malacca, vùng Sulu và Lombok.
Vì vậy mà Đông Nam Á có điều kiện chủ động đón nhận các luồng giao lƣu văn minh nhờ vị trí địa lý có tính chất cửa ngõ quốc tế. Đông Nam Á - vùng thuộc địa của phương Tây Về tiến trình lịch sử, đặc điểm nổi bật nhất, quán xuyến toàn bộ quá trình lịch sử Đông Nam Á từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là sự đô hộ của thực dân phƣơng Tây đối với các quốc gia ở khu vực này. Quá trình thâm nhập của thực dân phƣơng Tây vào Đông Nam Á với mục đích thực dân diễn ra ngay từ cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Sự giàu có về hƣơng liệu và khoáng sản, vị trí quan trọng về giao thông và quân sự, v.
là những lý do chính khiến ngƣời phƣơng Tây “để mắt” đến và nảy sinh ý đồ thôn tính, xâm lƣợc Đông Nam Á. 20 Về cơ bản, đến cuối thế kỷ XIX, tất cả các quốc gia Đông Nam Á (trừ Xiêm) đều rơi vào tay thực dân phƣơng Tây. Tuy nhiên, tùy theo tình hình cụ thể của mỗi nƣớc mà quá trình đô hộ của thực dân phƣơng Tây ở từng nƣớc diễn ra sớm muộn và nhanh chậm khác nhau, với các cách thức khác nhau nhƣ xâm chiếm đất đai, dùng vũ lực, gây sức ép cả về kinh tế, chính trị lẫn quân sự, v. Trong số các quốc gia Đông Nam Á thì Indonesia là nƣớc bị phƣơng Tây đô hộ đầu tiên.
Ngay từ năm 1511, các thƣơng nhân Bồ Đào Nha đã chiếm Malacca. Năm 1595, Hà Lan chiếm đƣợc Jakarta. Năm 1811, Indonesia rơi vào tay Anh và đến 1814 lại hoàn toàn trở thành thuộc địa của Hà Lan. Các bang của Malaysia bị Anh đô hộ dần dần từ nửa sau thế kỷ XIX.
Năm 1874, Anh đặt đƣợc sự đô hộ của mình ở các bang Perak, Selangor và Sembilan và năm 1888 thôn tính đƣợc Pahang. Hai bang lớn ở phía đông là Sabah và Sarawak cũng bị Anh chiếm vào năm 1888. Năm 1909, bốn bang thuộc Xiêm là Perlis, Kelantan, Kedah và Terengganu cũng trở thành thuộc địa của Anh và từ đó các bang này trở thành vùng đất của Malaysia. Cũng năm đó, Anh chiếm đƣợc Johor.
Nhƣ vậy, đến đầu thế kỷ XX, toàn bộ Indonesia đã bị Anh xâm chiếm. Philippines từ 1571 đã là thuộc địa của Tây Ban Nha. Đến năm 1902, quốc gia này hoàn toàn rơi vào tay Hoa Kì. Mảnh đất bé nhỏ Brunei, sau bao nhiêu năm bị Mỹ, Tây Ban Nha và Hà Lan “để mắt” cuối cùng, ngày 17/9/1888 cũng hoàn toàn trở thành thuộc địa của Anh – chịu chung số phận nhƣ Malaysia.
Dĩ nhiên không chỉ Brunei mà toàn bộ vùng đất bắc Borneo cũng thuộc quyền kiểm soát của Anh. Trên bán đảo Trung - Ấn, Myanmar từ lâu đã bị Anh, Hà Lan, Pháp nhòm ngó. Sau nhiều cuộc chiến tranh xâm lƣợc, tháng 11/1885, Anh chiếm xong toàn bộ lãnh thổ Myanmar và biến Myanmar thành một tỉnh của Ấn Độ. Ba nƣớc Việt Nam, Lào, Campuchia bị rơi vào tay thực dân Pháp.
Trƣớc sự chống trả yếu ớt và nhƣợng bộ của triều đình Huế, Pháp nhanh chóng chiếm đƣợc Việt Nam, sau đó đánh thẳng vào Campuchia và Lào. Vua Norodom phải ký với Pháp một hiệp ƣớc, công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Campuchia. Với Lào, ách thống trị của Pháp đƣợc thiết lập chính thức kể từ khi có hiệp ƣớc Xiêm - Pháp ngày 3/10/1893, trên tinh thần Xiêm phải nhƣờng quyền lợi ở Lào cho Pháp. 21 Nhƣ vậy là, đến cuối thế kỷ thứ XIX, trừ Xiêm, tất cả các quốc gia Đông Nam Á khác đều nằm trong sự đô hộ của thực dân phƣơng Tây: Philippines thuộc Mỹ, Indonesia thuộc Hà Lan, Malaysia, Brunei, Myanmar thuộc Anh, Việt Nam, Campuchia, Lào thuộc Pháp.
Sống dƣới ách đô hộ của thực dân phƣơng Tây, nhân dân Đông Nam Á phải chịu sự bóc lột tàn bạo của chúng. Chúng thực hiện hàng loạt chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa, chẳng hạn: Khai thác tài nguyên thiên nhiên nhƣ than đá, thiếc, kẽm, đồng vàng, bạc, v. mang về chính quốc; tăng thuế và đặt ra nhiều thứ thuế vô lý, kể cả thuế than; thực hiện chính sách chia rẽ quần chúng, mua chuộc giai cấp thống trị bản địa; thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc nhân dân bằng rƣợu và thuốc phiện. Đông Nam Á thuộc địa đã thực sự trở thành nơi cung cấp nguyên liệu, nhân công và lƣơng thực rẻ mạt cho thực dân phƣơng Tây, trở thành thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của chúng.
Hơn thế nữa, Đông Nam Á còn bị chúng biến thành một căn cứ quân sự để làm bàn đạp tấn công các nƣớc khác. Trong quá trình bành trƣớng thế lực sang châu Á, Đông Nam Á thu hút sự quan tâm của Nhật Bản. Năm 1936, Đông Nam Á đƣợc đƣa lên hàng “quốc sách” trong chính sách đối ngoại của Nhật. Và năm 1940, các nƣớc Đông Nam Á trở thành đối tƣợng xâm chiếm trực tiếp của Nhật Bản 22 CHƢƠNG 2 TƢ TƢỞNG VÀ CHÍNH SÁCH NAM TIẾN CỦA NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 2.
Tƣ tƣởng Nam tiến thời kỳ Meiji Vào cuối thế kỷ XIX, nhờ những thành tựu của sự nghiệp duy tân, Nhật Bản đang vƣơn mình thành một nƣớc “phú quốc cƣờng binh”. Sau khi hoàn tất công cuộc chinh phục Hokkaido và Okinawa, nhiều học giả, nhà văn, nhà thám hiểm… đã cho xuất bản nhiều cuốn sách, bài báo khởi xƣớng tƣ tƣởng Nam tiến ở Nhật. Tiêu biểu nhất là Shiga Shigetaka, Hattori Tōru, Suganuma Tadakaze, Suzuki Tsunenori, Taguchi Ukichi, Inagaki Manjirō và Takekoshi Yosaburō. Shiga Shigetaka(志賀重昂)sinh năm 1863 ở Okazaki thuộc Mikawa, miền Trung Nhật Bản.
Năm 1880, ông vào học Trƣờng Nông nghiệp Sapporo và sau khi tốt nghiệp, ông làm giáo viên trung học, dạy môn sinh vật ở Nagano. Sau đó ông lên Tōkyō, tham gia huấn luyện hàng hải trên chiến hạm “Tsukuba”, có dịp đi đến các vùng biển Nam Thái Bình Dƣơng và Australia trong vòng 10 tháng. Ông ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy trong chuyến đi đó trong ký sự “Nam dƣơng thời sự”, đƣợc Nhà xuất bản Maruzen phát hành vào tháng 4/1887. Trong tác phẩm đó, Shiga Shigetaka đã sử dụng thuật ngữ “Nam dƣơng” với những nội hàm riêng của mình.
Ông nhận thức đƣợc rằng, trƣớc ông đã có ngƣời sử dụng từ “Nam dƣơng” nhƣng nội dung không rõ ràng. Ông là ngƣời đầu tiên coi “Nam dƣơng” là thuật ngữ khác Đông Dƣơng và khác Tây Dƣơng. Đây là đóng góp quan trọng trong nhận thức về Nam dƣơng của ngƣời Nhật. Từ đó về sau, ngƣời Nhật đã sử dụng thuật ngữ Nam dƣơng một cách tự nhiên và phổ biến.