Chương 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VA CÔNG NGHỆ THÚC DAY PHÁT TRIEN CUM NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về cụm ngành công nghiệp và các liên kết hình thành cụm ngành công nghiệp 1.1 Nghiên cứu về cụm ngành công nghiệp ở nước ngoài Cum công nghiệp (Industrial cluster) hay còn gọi là Cum ngành công nghiệp là sự quy tụ của các doanh nghiệp trong một khu vực địa lý nhất định, là hiện tượng kinh tế được biết đến và thu hút sự quan tâm của các nhà kinh tế học từ cuối thế kỷ 19. Nhiều bài viết cho rằng Alfred Marshall là người khởi nguồn nghiên cứu về cụm ngành công nghiệp thông qua tác pham Các nguyên lý kinh tế học của ông được xuất bản đầu tiên vào năm 1890. Sau Marshall, nhiều học giả cũng đã nghiên cứu về cụm ngành công nghiệp với các cách tiếp cận khác nhau và có nhiều cách giải thích khác nhau cho hiện tượng này. Các nhà kinh tế học theo lý thuyết tập trung cô điển như Marshall, Weber, Ohlin, và Hoover cho rằng các doanh nghiệp quy tụ tại một khu vực địa lý nhằm tận dụng lợi ích kinh tế theo quy mô nội ngành (external economies of scale).
Đó chính là sự dồi dao về lao động có kỹ năng, các yếu tô đầu vào, các dịch vụ chuyên biệt, và sự lan tỏa công nghệ trong một phạm vi địa lý, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí vận tải và chi phí xây dựng cơ sở hạ tang. Điều này cho phép hình thành các mối liên kết sản xuất, dịch vụ và marketing giữa các doanh nghiệp trong cụm. Từ những năm 1990 với sự trỗi dậy của kinh tế tri thức và sự phát triển mạnh mẽ, lan tỏa của các cụm ngành công nghiệp (CNCN), nhất là các ngành công nghiệp dựa trên các lĩnh vực công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, tự động hóa,.) đòi hỏi phải nghiên cứu để giải thích sự tập trung công nghiệp. Có thể kế tên một số nhà kinh tế theo trường phái này như Lundval, Cooke, Morgan, Malmberg, và Maskell.
Các nhà kinh tế này cho rằng khả năng tiếp cận nền tảng tri thức chung được xem là yếu tố chủ yếu tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng và của một vùng hay một quốc gia nói chung. Vì vậy, các doanh nghiệp tập hợp lại với nhau thành cụm nhằm tăng cường khả năng tạo ra tri thức từ việc học hỏi lần nhau. Các quan điêm cho rang sự gân gũi vê mặt địa lý có 17 tác động rõ rệt đến sự đôi mới, chuyên giao tri thức, và tăng trưởng kinh tế càng có tính thuyết phục hơn [65]. Khoảng gần hai thập ky gần đây, có nhiều nhà nghiên cứu mà nỗi bật là GS Michael Porter, Đại học Harvard (Mỹ) xem xét cụm công nghiệp từ góc độ cạnh tranh.
Khái niệm về cựm ngành công nghiệp (Industrial Cluster) đầu tiên được Michael Porter đưa ra xuất phát từ việc nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh các ngành công nghiệp quốc gia và các khu vực trên thé giới. Khá nhiều mô hình đã được xây dựng nhằm phân tích sự cạnh tranh của một khu vực địa lý trên bản đồ cạnh tranh toàn cầu. Trong đó có 2 lý thuyết nỗi bật về phát triển công nghiệp là Ly thuyết về cụm công nghiệp (industrial cluster) và lý thuyết về hệ sinh thái kinh doanh (business ecosystem). Day là hai mô hình phản ánh hiện tượng hình thành và phát triển cộng đồng doanh nghiệp có hiệu năng cao trong cùng một ngành, một lĩnh vực.
Theo Michael Porter, cụm ngành công nghiệp là sự tập hợp về mặt không gian của một nhóm các doanh nghiệp, các nhà cung cấp linh kiện, các nhà cung cấp dịch vụ, các công ty trong các ngành liên quan và cả các tô chức có mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp này như: các trường đại học, các viện nghiên cứu, các công ty dau tư tài chinh,. trong một ngành xác định, cạnh tranh với nhau nhưng cùng nhau thực hiện các hoạt động chung [ 103]. Cụm ngành công nghiệp dựa trên 4 yếu tố: (1) Giới hạn về địa lý; (2) Số lượng các ngành công nghiệp; (3) Múi liên hệ: và (4) Lợi thế cạnh tranh. Ông cũng đề xuất mô hình kim cương với 4 nhân tô quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia, là: () Các điều kiện cầu (demand conditions): là điều kiện cầu đối với sản phẩm và dịch vụ ngành); (ii) ) Cac điều kiện nhân tố sản xuất (factor of production): là các yếu tố đầu vào, như nhân lực, nguyên vật liệu, nguồn vốn, kiến thức, cơ sở hạ tầng,.);(ii) ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ (related and supporting industries); và (iv) Chiến lược va sự cạnh tranh (strategies and competition): Chién lược và môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp.
Với vai trò của Chính phủ đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia: định hướng phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế; tạo môi trường 18 pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế hoạt động và cạnh tranh lành mạnh; điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc sử dụng các công cụ ngân sách, thuế khóa, tín dụng.và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và chính sách đề ra. Akifumi Kuchiki (Nhật Bản) cho rang cụm ngành công nghiệp (CNCN) là su tập trung về mặt địa lý trong một quốc gia hoặc một vùng của các công ty liên kết với nhau, các nhà cung cấp chuyên biệt, các nhà cung cấp dịch vụ và các tổ chức liên quan thuộc một lĩnh vực cụ thé. Nghiên cứu cua Akifumi Kuchiki va Masatsugu Tsuji về “Cum ngành công nghiệp tai Châu A: phân tích cạnh tranh và hợp tác giữa các cụm ngành” tập trung đánh giá sự hình thành và phát triển của các CNCN, vai trò của cạnh tranh và phối hợp trong phát triển các cụm ngành ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam. Nghiên cứu “Mô hình tiếp cận chính sách cụm ngành công nghiệp: cụm ngành công nghiệp ô tô của Trung Quốc ” đề cập về cách tiếp cận mô hình chính sách CNCN và vận dụng vào phân tích CNCNô tô ở Quảng Châu (Trung Quốc) của Akifumi Kuchiki cho thấy vai trò rất lớn của công ty Honda, Nissan, Toyota đối với tập trung kinh tế ở Quảng Châu cộng với vai trò to lớn của chính quyền địa phương trong việc tạo môi trường thuận lợi và ưu đãi dé thực hiện chính sách tập trung kinh tế, hình thành CNCN ô tô ngày càng lớn mạnh ở đây.
Trong nghiên cứu này Kuchiki cho rằng chính sách CNCN là một phần của chính sách phát triển vùng. Điều quan trọng là phải xác định rõ vai trò của chính quyền địa phương đối với sự hình thành CNCN [65]. Mặt khác, qua nghiên cứu về sự hình thành CNCN của các nước đang phát triển, nếu phát trién CNCN dựa trên 4 nhân tố theo mô hình kim cương của M. Porter thì khó đáp ứng được, nên theo Akifumi Kuchiki cho rằng phần lớn các nước dang phát triển phát triển công nghiệp theo 2 bước, đó là: (i) Bước tập trung: Tập trung tích tụ công nghiệp bằng cách xây dựng các khu công nghiệp và xây dựng năng lực (cơ sở hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực, điều kiện song) va thu hut cac doanh nghiệp chủ dao và các doanh nghiệp có liên quan.
Sau đó, là (ii) Bước đổi mới: Thu hút sự hợp tác các trường đại học, viện nghiên cứu; tiếp tục xây dựng và phát triên năng lực (cơ sở hạ tâng, thê chê, nguôn nhân lực, điêu kiện sông) và có 19 vai trò có tính chất quyết định tạo thiết chế để hình thành cụm công nghiệp của chính phủ, chính quyền các địa phương, các tập đoàn, tổng công ty chủ đạo trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp của cụm. Nghiên cứu của Tsukamoto (2005) về “Chính sách cụm ngành công nghiệp của Nhật Bản”, cho rằng để hình thành một CNCN, Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp và Nhật Ban (METI) tiễn hành bốn bước: (i) phân tích đặc điểm của địa phương, (ii) xác định mạng lưới có thé có, (iii) mở rộng phạm vi mạng lưới, và (v) thúc đây tập trung công nghiệp và đổi mới. Ba nhóm chính sách mà METI thực hiện là (i) xây dựng mạng lưới, (1) hỗ trợ doanh nghiệp (R&D, phát triển thị trường, quản lý, dao tạo), và (iii) thúc đây liên kết (giữa t6 chức tài chính - công nghiệp - cơ sở đảo tạo) [110]. Các nhà khoa học chia sẻ với nhau cách hiểu về cụm ngành công nghiệp (Industrial Cluster) là hình thức tập trung doanh nghiệp theo ngành sản xuất sản phẩm trên một phạm vi địa lý nhất định, có sự liên kết lẫn nhau tạo nên sự thành công của tất cả các doanh nghiệp trong CNCN đó.
Có thể nói, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong CNCN là then chốt tạo nên giá trị lợi ích gia tăng và giảm thiểu chỉ phí cho các doanh nghiệp, tạo nên một chuỗi các hoạt động cộng thêm giá trị và tạo ra một sản phâm hoàn chỉnh với chi phí hợp lý nhất. Các CNCN nỗi tiếng trên thế giới đã tạo thành thương hiệu cho cả các doanh nghiệp hoạt động trong đó, ví dụ như Silicon Valley (Mỹ), Otaku (Nhật Bản), Bangalore (Ấn độ), Penang (Malaysia), Tuscany và Bologlia (Ý), Rhein (Đức), Gyeonggi (Hàn Quốc), Thâm Quyên (Trung Quốc),. Như vậy, có thể thấy răng, mô hình CNCN đã và đang được nghiên cứu và áp dụng thành công tại nhiều quốc gia khác nhau trên khắp thế giới. Hàng năm, hội nghị toàn cầu về chia sẻ kinh nghiệm phát triển CNCN vấn được tổ chức với hon 150 quốc gia và hàng ngàn đại biểu.
Trên toàn thế giới, CNCN đang là một công cụ quan trọng trợ giúp cho việc phát triển công nghiệp, trên nền tảng phát triển công nghiệp hỗ trợ, giúp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) địa phương và phát triển bền vững trên cơ sở nâng cao năng lực nội sinh cho các doanh nghiệp. CNCN còn là nhân tố dé góp phần thúc đây liên kết vùng về kinh tế, vì nó liên kết 20 giữa các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng nguyên vật liệu với các doanh nghiệp chế biến, chế tạo và các doanh hỗ trợ và dịch vụ ở các địa phương trong vùng theo chuỗi giá trị, cùng hỗ trợ thúc day nâng cao giá trị gia tăng và thúc day cùng phát triển. Đồng thời, liên kết vùng về kinh tế cũng là một trong những điều kiện dé thúc đây hình thành cụm ngành công nghiệp.