Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ 1.1 Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách hợp tác quốc tế 1.1 Chính sách, chính sách công Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam biên soạn đã định nghĩa: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa” (bachkhoatoanthu. Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về chính sách công.
Theo tác giả Vũ Tuấn Hưng, thuật ngữ Chính sách được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các chủ thể khác nhau trong đó có thể là các hoạt động của nhà nước và hoạt động không phải của nhà nước. Còn những chính sách gắn với yếu tố nhà nước vì mục tiêu, lợi ích chung cho cộng đồng sẽ thuộc về phạm trù chính sách công [15, tr. Theo tác giả Lê Chi Mai, Chính sách công là thuật ngữ “dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định” [17]. Tác giả Lê Vinh Danh quan niệm rằng “Chính sách công là những gì mà chính quyền thi hành đến nhân dân” [ 6, tr.
Các nhà khoa học của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng “Chính sách công là chương trình hành động của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể”. Từ các quan điểm trên cho thấy, chính sách công là một công cụ của quản lý nhà nước, luôn gắn với các chủ thể quyền lực nhà nước. Chính sách công có đối tượng, phạm vi ảnh hưởng lớn vì nó được thực thi bởi bộ máy cơ quan công quyền để thực hiện các vấn đề quốc gia, dân tộc hoặc khu vực xã hội rộng. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chọn định nghĩa khái niệm chính sách do tác giả Đỗ Phú Hải đưa ra như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính 8 Luan van trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” [10, tr 16].
Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ), các Bộ ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Chính sách công được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến pháp, Luật, Nghị định, Quyết định… Mục đích cuối cùng là để phát triển và quản lý sự phát triển của xã hội. Tại các bộ, ngành Trung ương, chính sách công trên danh nghĩa là chính sách của Chính phủ, chính sách của Nhà nước. Nhưng tham mưu đề xuất hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách chủ yếu là các bộ, ngành Trung ương.
Các bộ, ngành Trung ương theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và quy định của chính phủ, có chức năng, nhiệm vụ hoạch định và thực hiện các chính sách công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành. Thường các bộ, ngành căn cứ vào quy định của Hiến pháp, của pháp luật và các quy định trong Nghị định của Chính phủ và các nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm xúc tiến xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án thực hiện chính sách công trong cán bộ, ngành. Bộ được Chính phủ giao tham mưu đề xuất hoạch định chính sách công nào thì cũng được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì, tổ chức triển khai thực hiện và theo dõi đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chính sách công đó [10, tr 126, 127]. Hợp tác quốc tế, chính sách hợp tác quốc tế Trong tiếng Anh, “Hợp tác quốc tế” là “international cooperation”.
Xét về từ nguyên, dựa trên ngôn ngữ La-tinh, danh từ “cooperation” có thể được dịch là "hợp tác" hoặc "cùng thực hiện nhiệm vụ", còn tính từ “International” do hai thành phần (l) “inter” với nghĩa là sự kết nối, liên quan giữa nơi chốn, sự vật được nhắc đến và (2) “national” nghĩa là thuộc về một quốc gia, như vậy hợp lại theo nguyên mẫu tiếng La-tinh dùng để phản ánh tính chất có sự liên quan, liên kết giữa các quốc gia, mang tính quốc tế, đa quốc gia, liên quốc gia. Trong tiếng Việt, “hợp tác” là phối hợp hành động và “quốc tế” là giữa các quốc gia với nhau. Hiểu theo cách ghép nghĩa đơn thuần thì “hợp tác quốc tế” là sự hợp tác có tính quốc tế, liên quan tới 9 Luan van nhiều quốc gia, để cùng hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu nào đó. Trang từ điển trực tuyến Definitions.net cũng định nghĩa “Hợp tác quốc tế là sự tương tác của những người hoặc nhóm người đại diện cho các quốc gia khác nhau nhằm theo đuổi một mục tiêu hoặc lợi ích chung.” Trong lĩnh vực khoa học về quan hệ quốc tế, giáo sư Hoàng Khắc Nam định nghĩa “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung” [20, tr.
Một định nghĩa khác về hợp tác quốc tế thường được sử dụng trong các tài liệu về quan hệ quốc tế tiếng Anh là “hợp tác quốc tế là sự hợp tác xảy ra khi các chủ thể điều chỉnh hành vi của họ theo thực tế hoặc mong đợi của người khác” [25], nói cách khác, hợp tác quốc tế là sự tương tác giữa các chủ thể khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu chung. Các chính phủ và các thiết chế cùng xây dựng, phát triển các tiêu chuẩn chung và tạo ra các chương trình bao trùm nhiều vấn đề, có ích và có thể được mở rộng cho nhiều xã hội và thậm chí cho tất cả cộng đồng quốc tế. Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, “song phương” được hiểu là có hai phía, hai bên cùng tham gia vào một hoạt động hoặc cùng thoả thuận thực hiện một hoạt động, khác với “đơn phương” (chỉ có một bên); “đa phương” được hiểu là có nhiều phía, nhiều bên cùng tham gia vào một hoạt động hoặc cùng thoả thuận thực hiện một hoạt động. Theo đó, “đối tác song phương” thường được coi là các chủ thể tham gia vào hoạt động hợp tác giữa hai bên (các bên ở đây có thể hiểu là cơ quan, tổ chức hoặc quốc gia).
“Đối tác đa phương” thường được coi là các chủ thể tham gia vào hoạt động hợp tác giữa nhiều bên (ít nhất là ba bên, các bên ở đây có thể hiểu là cơ quan, tổ chức hoặc quốc gia). Hợp tác song phương (HTSP) là hợp tác chỉ giữa hai đối tác, đây là loại hình hợp tác phổ biến và có lịch sử lâu đời hơn. Hợp tác đa phương (HTĐP) được hiểu đơn thuần là có sự tham gia của từ 3 đối tác trở lên. Chính vì vậy, “đối tác đa phương” cũng có thể được hiểu là một cơ chế hay một tổ chức hợp tác đa phương được thiết lập trên cơ sở thoả thuận giữa ít nhất ba bên.
Theo tiến trình lịch sử, nhiều tổ chức hợp tác quốc tế song phương hoặc đa phương, bao hàm cả hợp tác chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội, đã hình thành, như: Liên hợp quốc 10 Luan van (UN) và các tổ chức trực thuộc; Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); Liên minh Châu Âu (EU)…Có tổ chức chỉ tồn tại trong một thời kỳ lịch sử nhất định, có tổ chức còn tồn tại, mở rộng phạm vi hoạt động và có ảnh hưởng lớn trong thời kỳ đương đại và tiếp tục khẳng định sự hợp tác quốc tế, hội nhập khu vực và toàn cầu. Hoạt động hợp tác quốc tế ở Việt Nam hiện nay rất phong phú và được nhiều người gọi là hoạt động đối ngoại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ thống nhất điều hành các hoạt động ngoại giao của quốc gia, trước hết và trực tiếp là Bộ Ngoại giao. Ngày nay, bên cạnh các hoạt động ngoại giao và hợp tác quốc tế của nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp ở nước ta đều có hoạt động hợp tác quốc tế.
Hoạt động hợp tác quốc tế của các cơ quan, đơn vị này ngày càng sôi động, thiết thực, hiệu quả và dần đi vào chuyên nghiệp với sự tham mưu của các cơ quan chuyên trách về hợp tác quốc tế với các tên gọi khác nhau như Sở Ngoại vụ, Vụ (Cục) Hợp tác quốc tế, Vụ (Cục) Đối ngoại, Vụ (Cục) Quan hệ quốc tế, Ban Quốc tế, Ban Đối ngoại, Phòng Hợp tác quốc tế… Bên cạnh Bộ Ngoại giao có chức năng quản lý nhà nước và hướng dẫn hoạt động đối ngoại, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị cũng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, hỗ trợ hoạt động hợp tác quốc tế và hoạt động ngoại giao. Hoạt động hợp tác quốc tế của TTCP bao gồm cả HTSP và HTĐP, hợp tác với các tổ chức quốc tế. Tóm lại, tổng hợp các định nghĩa và quan niệm ở trên, trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu này, “đối tác song phương của TTCP Việt Nam” được hiểu là các cơ quan có chức năng tương ứng hoặc các tổ chức thuộc một quốc gia khác mà TTCP có ký kết thỏa thuận hợp tác hoặc có hoạt động phối hợp; “đối tác đa phương của TTCP Việt Nam” được hiểu là các tổ chức đa phương hoặc các định chế, diễn đàn, hiệp định hoặc thoả thuận quốc tế và khu vực mà TTCP Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở các khái niệm về chính sách, chính sách công, hợp tác và hợp tác quốc tế, trong phạm vi của luận văn đưa ra khái niệm về chính sách hợp tác quốc tế là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định và quy định của nhà nước ta dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ, do các tổ chức và cá nhân 11 Luan van tiến hành trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài hay tổ chức quốc tế trên cơ sở pháp luật trong nước, pháp luật, tập quán quốc tế và các thỏa thuận hợp tác nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia, tổ chức và cá nhân.