Tổng quan luận án
Luận án "Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay" của nghiên cứu sinh Hoàng Minh Đức được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của GS. TS Trịnh Văn Thanh, bảo vệ năm 2016. Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 62 38 01 04.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xác định tính cấp thiết của đề tài từ hai chiều: thực tiễn tội phạm học và thực trạng lý luận. Về thực tiễn, theo số liệu của Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, từ năm 2006 đến năm 2015 cả nước xảy ra 95.474 vụ phạm pháp hình sự về trật tự xã hội do người chưa thành niên (NCTN) thực hiện. Số vụ và số đối tượng có xu hướng tăng; thành phần, lĩnh vực phạm tội ngày càng đa dạng; hành vi phạm tội không còn bộc phát đơn thuần mà đã có sự tính toán, tổ chức, thậm chí hình thành băng nhóm tội phạm có tổ chức. Các tội phổ biến bao gồm giết người, cướp tài sản, trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng và tội phạm về ma túy.
Về lý luận, tác giả chỉ ra rằng những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách hình sự (CSHS) đối với NCTN phạm tội còn tản mạn, thiếu thống nhất; công tác tổng kết thực tiễn ít được quan tâm; pháp luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt đối với NCTN còn nhiều bất cập; việc nắm bắt và thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội chưa đồng bộ.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể cho việc hoạch định và triển khai thực hiện CSHS trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Luận án đặt ra bốn nhiệm vụ chính:
- Kiến giải làm rõ nội hàm khái niệm CSHS đối với NCTN phạm tội; xác định vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, các nguyên tắc và ý nghĩa của CSHS.
- Phân tích làm rõ yêu cầu, các yếu tố bảo đảm xây dựng và thực hiện CSHS; nội dung, các nhân tố tác động và các biện pháp thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội.
- Phân tích sự thể hiện của CSHS đối với NCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam, qua các khía cạnh: mục tiêu, quan điểm, đường lối xử lý, nguyên tắc xử lý, quy định về tội phạm và hình phạt.
- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hoạch định, thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội; phát hiện vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm: những vấn đề lý luận về CSHS đối với NCTN phạm tội; CSHS hiện hành; và việc triển khai thực hiện CSHS tại Việt Nam.
Phạm vi nội dung được giới hạn theo nghĩa hẹp, tập trung vào chính sách pháp luật hình sự, cụ thể là chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với NCTN phạm tội. Phạm vi không gian bao gồm toàn quốc, với địa bàn phân tích điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian: số liệu thống kê từ năm 2006 đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Hướng nghiên cứu nước ngoài
Tác giả điểm lại các công trình quốc tế theo hai nhóm:
Nhóm nghiên cứu về CSHS nói chung:
- Bobetev (1984), "Chính sách hình sự của Nhà nước Xô Viết": đề cập các hoạt động tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa, phi hình sự hóa, nhưng chưa giải quyết thấu đáo mục tiêu, nguyên tắc và phương tiện thực hiện CSHS.
- Santalov A. I (1982), "Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự", Đại học Tổng hợp Lêningát: phân tích hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của trách nhiệm hình sự, mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và án tích.
- Bagrij Shakhmatov L.V (1976), "Trách nhiệm hình sự và hình phạt", Moskva: làm sáng tỏ bản chất, hình thức và mục đích của trách nhiệm hình sự; khẳng định hình phạt là hình thức chủ yếu của trách nhiệm hình sự.
Nhóm nghiên cứu về CSHS đối với NCTN phạm tội:
- Melinikova E.B (1974, bản dịch 1982), "Vì sao họ phạm tội? Tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội ở các nước tư bản chủ nghĩa": phân tích nguyên nhân kinh tế – xã hội ở xã hội tư bản, nhưng kết quả chỉ phù hợp bối cảnh thập niên 1960–1970, không còn thích ứng với thực tiễn hiện nay.
- Steven D. Levitt (1998), "Juvenile Crime and Punishment", The Journal of Political Economy, Vol. 106, Issue 6: phân tích sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật các bang Hoa Kỳ đối với tội phạm vị thành niên và tội phạm người đã thành niên; nghiên cứu ảnh hưởng của hình phạt dành cho tội phạm vị thành niên đối với hành vi phạm tội khi trưởng thành.
- Peter Greenwood (2008), "Prevention and Intervention Programs for Juvenile Offenders", Journal of Social Science, Vol. 18, Princeton University: đánh giá khoảng 12 chương trình phòng ngừa tội phạm đã được thông qua và khoảng 20–30 chương trình đang được kiểm chứng; lưu ý mỗi đô la đầu tư vào chương trình phòng ngừa hiệu quả có thể tiết kiệm từ 7 đến 10 đô la ngân sách.
- Kelly Richards, "What makes juvenile offenders different from adult offenders?", Trends and Issues in Crime and Criminal Justice: chỉ ra người vị thành niên có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm; phân tích hệ thống pháp lý của Australia đã phát triển dựa trên những khác biệt này.
- Iryna Rud, Chris Van Klaveren, Wim Groot, Henriëtte Maassen van den Brink (2013), "Education and Youth Crime: a Review of the Empirical Literature", TIER working paper, Đại học Maastricht: phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và hành vi phạm tội của thanh thiếu niên, kết luận giáo dục giúp giảm khả năng tham gia vào hành vi phạm tội.
Hướng nghiên cứu ở Việt Nam
Nhóm công trình về CSHS nói chung:
- GS. TSKH Đào Trí Úc (2000), "Luật hình sự Việt Nam", NXB Khoa học Xã hội.
- GS. TS Hồ Trọng Ngũ (2002), "Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng", NXB Chính trị Quốc gia.
- GS. TSKH Lê Cảm (2005), "Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự – Phần chung", NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; và báo cáo "Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam".
- TS. Phạm Văn Lợi (chủ biên, 2007), "Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam", NXB Tư pháp.
- Phạm Thư (2005), "Chính sách hình sự và việc thực hiện chính sách hình sự ở nước ta", Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội.
- TS. Nguyễn Quốc Việt (2009), "Một số vấn đề về chính sách hình sự của Nhà nước ta hiện nay và phương hướng sửa đổi Bộ luật hình sự", chuyên đề đề tài cấp Bộ.
- TS. Phạm Hồng Hải (2002), "Tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự phục vụ cho quá trình đổi mới và xu thế hội nhập ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6 (170).
- GS. TS Võ Khánh Vinh (chủ biên, 2009; 2011; 2014), các chuyên khảo về quyền con người theo phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành.
Nhóm công trình về CSHS đối với NCTN phạm tội:
- GS. TS Võ Khánh Vinh (2005), "Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội", trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Công an Nhân dân: kiến giải căn cứ cho quy định một chương "Biệt lệ" trong BLHS; phân tích nguyên tắc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- GS. TS Võ Khánh Vinh (2014), "Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội", trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Khoa học Xã hội.
- GS. TS Võ Khánh Vinh và PGS. TS Cao Thị Oanh (2013), "Giáo trình Luật thi hành án hình sự Việt Nam", NXB Khoa học Xã hội.
- TS. Dương Tuyết Miên (2011), "Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế", NXB Chính trị Quốc gia.
- Nguyễn Mai Bộ (2001), "Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 1999", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả tổng kết ba hạn chế nổi bật trong các công trình đã có: (1) hầu hết dừng lại ở phân tích quy định cụ thể trong thực tiễn đấu tranh mà chưa làm rõ các vấn đề lý luận tầm chiến lược về khái niệm, nguyên tắc, mục tiêu, hình thức và công cụ thực hiện CSHS; (2) chưa giải quyết được những vấn đề cốt lõi về cơ sở hoạch định chính sách, các nhân tố tác động và thực tiễn định tội danh, quyết định hình phạt đối với NCTN; (3) các gợi ý từ kinh nghiệm nước ngoài cần được chắt lọc phù hợp với điều kiện Việt Nam và nguyên tắc pháp luật quốc tế. Từ đó, luận án chọn tiếp cận liên ngành luật học và khoa học chính sách công để lấp đầy khoảng trống lý luận này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung lý luận dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả tiếp cận CSHS đối với NCTN phạm tội là một bộ phận của chính sách pháp luật, đồng thời sử dụng hệ thống tri thức của Khoa học Chính sách công làm nền tảng tiếp cận vấn đề.
Các khái niệm trung tâm được tác giả xây dựng và vận dụng bao gồm: khái niệm CSHS đối với NCTN phạm tội; chính sách pháp luật hình sự; các hoạt động tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa, phi hình sự hóa. Luận án xác định CSHS đối với NCTN phạm tội là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội và trong việc sử dụng hệ thống pháp luật đó vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện.
Tác giả vận dụng tiếp cận liên ngành gồm: Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học, Tâm lý học, Xã hội học và Khoa học điều tra hình sự.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: hệ thống hóa vấn đề lý luận về CSHS; đánh giá thực tiễn qua hệ thống 200 bản án hình sự được thu thập tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích Báo cáo tổng kết của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu thống kê: điều tra, khảo sát thực tế và thống kê tình hình NCTN phạm tội tại Việt Nam từ 2006 đến 2015.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: nghiên cứu, đánh giá kết quả từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với NCTN.
- Phương pháp so sánh pháp luật: đối chiếu quy định của pháp luật hình sự nước ngoài với quy định của Việt Nam.
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến cán bộ thực tiễn và chuyên gia nghiên cứu qua các ấn phẩm, chuyên khảo, đề tài khoa học.
- Phương pháp điều tra điển hình: thu thập thông tin một số vụ án điển hình và kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện.
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu gồm: 200 bản án hình sự tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; báo cáo tổng kết hàng năm và chuyên đề của Tổng cục Cảnh sát, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Tổng cục thi hành án hình sự; số liệu thống kê của Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm; các văn bản pháp luật quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Chương này điểm lại toàn diện tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm: (1) các công trình về CSHS nói chung, và (2) các công trình về CSHS đối với NCTN phạm tội. Trên cơ sở đó, tác giả rút ra ba kết luận bước đầu làm nền tảng cho hướng tiếp cận của luận án: vấn đề NCTN phạm tội là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia; các công trình chưa giải quyết được vấn đề lý luận ở tầm chiến lược về CSHS đối với NCTN phạm tội; và kinh nghiệm nước ngoài cần được tiếp thu phù hợp với điều kiện và giá trị pháp lý truyền thống của Việt Nam, đồng thời đảm bảo phù hợp với nguyên tắc pháp luật quốc tế.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Đây là chương xây dựng khung lý luận của luận án. Tác giả kiến giải nội hàm khái niệm CSHS đối với NCTN phạm tội trên nền tảng khái niệm chính sách pháp luật và CSHS nói chung. Luận án phân tích đặc điểm tâm lý đặc trưng của NCTN phạm tội — chưa trưởng thành về thể chất và tâm lý, dễ bị dụ dỗ, kích động, hành động bộc phát, thường hoạt động theo băng nhóm — làm cơ sở cho việc xây dựng CSHS mang tính đặc thù.
Tác giả xác định CSHS đối với NCTN phạm tội theo phạm vi rộng bao gồm bốn bộ phận: chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, và chính sách pháp luật thi hành án hình sự; đồng thời luận án tập trung vào nghĩa hẹp là chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt.
Bốn mục tiêu của CSHS đối với NCTN phạm tội được xác định gồm: xác định chính xác các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật hình sự liên quan đến NCTN; xây dựng cơ sở chính trị, pháp lý cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN phạm tội; và xây dựng mối quan hệ phối hợp, chế ước giữa các cơ quan tư pháp hình sự.
Chương này cũng làm rõ yêu cầu và các yếu tố bảo đảm xây dựng CSHS (tính nhân đạo, tính phân hóa trách nhiệm hình sự, sự phù hợp với các chuẩn mực quốc tế), cùng nội dung, các nhân tố tác động và biện pháp thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội.
Chương 3: Chính sách hình sự hiện hành đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
Chương này phân tích sự thể hiện của CSHS đối với NCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành. Tác giả lần lượt xem xét: (1) các mục tiêu, quan điểm, đường lối xử lý và nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội trong Bộ luật hình sự (BLHS); (2) các quy định về tội phạm liên quan đến NCTN; (3) các quy định về hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với NCTN phạm tội; bao gồm quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các loại hình phạt, vấn đề quyết định hình phạt, và các biện pháp tha miễn.
Phần nhận xét, đánh giá chỉ ra những kết quả đạt được và những bất cập còn tồn tại trong pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến NCTN phạm tội, làm cơ sở cho đề xuất giải pháp ở chương sau. Tác giả đối chiếu quy định trong BLHS năm 1999 với các chuẩn mực quốc tế — đặc biệt Điều 40 Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Quy tắc Bắc Kinh (1985), Quy tắc chỉ đạo Riát (1990) và Quy chế Rome (1998) — để đánh giá mức độ tương thích.
Chương 4: Triển khai thực hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay
Chương này đánh giá thực trạng hoạch định và thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội qua các giai đoạn: điều tra, truy tố, xét xử, định tội danh, quyết định hình phạt. Số liệu phân tích dựa trên 200 bản án được thu thập tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và báo cáo của các cơ quan bảo vệ pháp luật, phản ánh tình hình tội phạm do NCTN thực hiện từ năm 2006 đến năm 2015.
Tác giả chỉ ra những hạn chế trong thực tiễn áp dụng: sự không đồng bộ giữa quy định pháp luật và thực tiễn thực thi; hạn chế trong nhận thức CSHS đối với NCTN phạm tội ở các cơ quan tiến hành tố tụng; những thiếu sót trong công tác tổng kết thực tiễn.
Phần giải pháp đề xuất các hướng hoàn thiện CSHS đối với NCTN phạm tội, bao gồm giải pháp về lập pháp (sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS) và giải pháp về thực tiễn áp dụng (nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, tăng cường phối hợp liên ngành, cải thiện công tác tái hòa nhập cộng đồng).
Kết quả và những đóng góp mới
Tác giả tự xác định bốn đóng góp mới của luận án:
Thứ nhất, kiến giải làm rõ nội hàm khái niệm CSHS đối với NCTN phạm tội; xác định vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc và ý nghĩa của CSHS đối với NCTN phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; xác định mối liên hệ giữa CSHS và hiệu quả thực tế của công tác này.
Thứ hai, phân tích làm rõ yêu cầu và các yếu tố bảo đảm xây dựng, thực hiện CSHS; nội dung, các nhân tố tác động và các biện pháp thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội.
Thứ ba, phân tích sự thể hiện của CSHS đối với NCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các khía cạnh: mục tiêu, quan điểm, đường lối xử lý, nguyên tắc xử lý, quy định về tội phạm và hình phạt.
Thứ tư, đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hoạch định, thực hiện CSHS; phát hiện những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp cụ thể cho việc hoạch định và triển khai thực hiện CSHS trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về kiến nghị, tác giả đề xuất theo hai hướng: hoàn thiện pháp luật hình sự (sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến NCTN phạm tội) và nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện CSHS trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng. Các giải pháp hướng tới việc thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có: giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ; đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội; giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Phạm vi nội dung của luận án giới hạn ở nghĩa hẹp của CSHS — chỉ bao gồm chính sách về tội phạm và hình phạt — không đề cập sâu đến chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự và chính sách phòng ngừa tội phạm với tư cách các bộ phận cấu thành theo nghĩa rộng của CSHS. Tác giả thừa nhận giới hạn này chỉ mang tính tương đối do phương pháp tiếp cận liên ngành.
Địa bàn phân tích điển hình tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, do đó kết quả phân tích thực tiễn có thể chưa phản ánh đầy đủ tình hình ở các địa bàn khác với điều kiện kinh tế – xã hội khác biệt.
Tác giả nhận định, công tác tổng kết thực tiễn liên quan đến CSHS đối với NCTN phạm tội còn rất ít được quan tâm, đây là khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu trong các công trình sau. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang phân tích ba bộ phận còn lại của CSHS đối với NCTN phạm tội theo nghĩa rộng, cũng như nghiên cứu tái hòa nhập cộng đồng và phòng ngừa tội phạm tái phạm ở nhóm đối tượng này.
Giá trị tham khảo
Đối với nhà nghiên cứu và giảng viên luật học, luận án cung cấp khung lý luận tương đối hệ thống về CSHS đối với NCTN phạm tội — đặc biệt phần Chương 2 về khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc — phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy các môn: Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự, Tội phạm học, Khoa học Điều tra hình sự trong các học viện, trường đại học đào tạo luật.
Đối với người làm chính sách và lập pháp, Chương 3 và Chương 4 cung cấp tư liệu đánh giá thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến NCTN phạm tội và các đề xuất sửa đổi, hữu ích cho công tác xây dựng pháp luật và cải cách tư pháp.
Đối với cán bộ thực tiễn trong hệ thống tư pháp hình sự (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, cán bộ thi hành án), luận án cung cấp những luận cứ về nguyên tắc nhân đạo và phân hóa trách nhiệm hình sự khi áp dụng pháp luật đối với NCTN phạm tội, và phân tích 200 bản án điển hình tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể dùng làm tài liệu tham chiếu thực tiễn.
Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành luật hình sự, tố tụng hình sự và tội phạm học, luận án là tài liệu nền về tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước đến thời điểm bảo vệ năm 2016, đặc biệt hữu ích ở Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là gì?
Tác giả xác định CSHS đối với NCTN phạm tội là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội, trong việc sử dụng hệ thống pháp luật đó vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện, nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, đồng thời bảo đảm và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN phạm tội, giáo dục và giúp đỡ NCTN phạm tội sửa chữa sai lầm, tái hòa nhập cộng đồng.
2. Luận án giới hạn nội dung nghiên cứu CSHS theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp?
Tác giả tập trung vào nghĩa hẹp, tức là CSHS đối với NCTN phạm tội chỉ bao gồm chính sách pháp luật hình sự — cụ thể là chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với NCTN phạm tội. Tác giả thừa nhận phạm vi rộng bao gồm thêm chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự và chính sách phòng ngừa tội phạm, nhưng không phải trọng tâm nghiên cứu của luận án.
3. Số liệu tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở Việt Nam giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Theo thống kê của Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, từ năm 2006 đến năm 2015 cả nước xảy ra 95.474 vụ phạm pháp hình sự về trật tự xã hội do NCTN thực hiện. Luận án không cung cấp thêm số liệu tổng hợp hoàn chỉnh trong phần được trích lục, ngoài nhận định rằng số vụ và số đối tượng hàng năm có xu hướng tăng lên, thành phần ngày càng đa dạng, tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn.
4. Luận án sử dụng những văn bản pháp lý quốc tế nào làm cơ sở so sánh?
Luận án dẫn chiếu nhiều văn bản quốc tế, trong đó nổi bật gồm: Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1989) — đặc biệt Điều 40 về đối xử với NCTN vi phạm luật hình sự; Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với vị thành niên (Quy tắc Bắc Kinh, 1985); Quy tắc chỉ đạo Riát về phòng ngừa NCTN phạm pháp (1990); Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do (1990); và Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế (1998) — Điều 26 quy định Tòa án không có quyền tài phán xét xử đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội.
5. Phương pháp thu thập dữ liệu thực tiễn trong luận án gồm những gì?
Luận án sử dụng kết hợp: phân tích 200 bản án hình sự thu thập tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; nghiên cứu Báo cáo tổng kết của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Tổng cục Cảnh sát, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp; điều tra điển hình một số vụ án; và số liệu thống kê từ Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm.
Kết luận
Luận án của Hoàng Minh Đức (2016) là công trình nghiên cứu chuyên sâu về CSHS đối với NCTN phạm tội tại Việt Nam, tiếp cận từ góc độ Luật hình sự và tố tụng hình sự với sự vận dụng tri thức liên ngành của Khoa học Chính sách công. Công trình xây dựng khung lý luận tương đối hệ thống về khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và nguyên tắc của CSHS đối với NCTN phạm tội; phân tích sự thể hiện của CSHS trong pháp luật hình sự Việt Nam; và đánh giá thực trạng triển khai thực hiện trong thực tiễn dựa trên 200 bản án và báo cáo của các cơ quan bảo vệ pháp luật giai đoạn 2006–2015. Các đề xuất giải pháp của luận án hướng tới hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả thực thi CSHS đối với NCTN phạm tội trong bối cảnh cải cách tư pháp, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị và các chuẩn mực pháp luật quốc tế về tư pháp vị thành niên.