Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Chính sách công và chính sách giải phóng mặt bằng 1. Chính sách công Chính sách công là một công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước. Thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa.
Tùy theo bối cảnh chính trị và thể chế của mỗi quốc gia mà việc thiết kế và ban hành chính sách công được thực hiện theo cách thức khác nhau. Mặc dù có sự khác nhau về cách thức hoạch định và thực thi chính sách giữa các quốc gia, nhưng chính sách công đều là sản phẩm của Nhà nước, do Nhà nước ban hành và tổ chức thực thi. * Khái Niệm chính sách công: Chính sách công là định hướng hành động do Nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng [15, tr. Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà Nước được thể hiện bằng một tập hợp các Quyết định có liên quan với nhau bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội [15, tr.
Khái niệm trên đây vừa bao hàm những đặc trưng của chính sách công do Nhà nước ban hành để tác động lên các đối tượng thuộc cộng đồng một cách ổn định. Vừa thể hiện được bản chất của chính sách công là công cụ định hướng của Nhà nước cho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển. Để đạt được mục tiêu, trước hết chính sách phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là Nhà nước phải hành động thực sự bằng chính sách. Điều kiện tồn tại chính sách là tổng hòa những hành động tích cực theo định hướng chính trị của Nhà nước nhằm tác động, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong từng giai đoạn phát triển.
Giữa chính sách kinh tế và chính sách chính trị, xã hội trước hết có sự thống nhất biện chứng và phụ thuộc lẫn 10 Luan van nhau. Chính sách xã hội bao giờ cũng chịu sự chi phối và ràng buộc của các điều kiện kinh tế. Mỗi giai đoạn của sự phát triển kinh tế đòi hỏi phải có những chính sách xã hội tương ứng với khả năng và điều kiện của nó. Chính sách công có các thuộc tính căn bản như: Tính chính trị.
Tính công cộng, tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính thừa kế lịch sử và gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định. Chính sách công có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội của mỗi quốc gia thậm chí có thể ảnh hưởng đến những quốc gia khác. Sự ảnh hưởng của các quốc gia đôi khi thông qua sự ảnh hưởng của những chính sách công. Vị thế quốc gia càng lớn bao nhiêu tầm ảnh hưởng của những chính sách trong quan hệ quốc tế càng nhiều bấy nhiêu.
Chính sách công là một trong những sản phẩm của quá trình quản lý nên khi quyết định chính sách, chủ thể quản lý cũng phải đầy đủ những dữ liệu có liên quan đến chính sách. Do mục tiêu của chính sách tác động đến nhiều đối tượng và ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động của tổ chức nên chủ thể phải xem xét, cân nhắc thật kỹ mọi bề. Muốn duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách các chủ thể cần thường xuyên xem xét về khả năng truyền dẫn ý chí quản lý đến các đối tượng tác động của chính sách, về tạo dựng và củng cố mối quan hệ giữa chủ thể và đối với đối tượng thụ hưởng chính sách. Việc phân tích để thấy được những mục tiêu chính sách mà chủ thể dự kiến theo đuổi có thiết thực không, có khả thi không và nếu có khả thi thì có phù hợp với mục tiêu của tổ chức không… Kết quả phân tích này được coi là căn cứ quan trọng nhất để chủ thể ra quyết định chính sách.
Sau khi chính sách được ban hành. Chủ thể cần phải xem xét tính phù hợp giữa nguyện vọng của đối tượng thụ hưởng với mục tiêu của chính sách để kịp thời điều chỉnh, bổ sung làm cho mục tiêu chính sách được sát thực với đời sống xã hội. Việc phân tích nhằm để thấy được tính hệ thống của chính sách. Hệ thống chính sách là tập hợp các chính sách có đặc trưng giống nhau về mục tiêu hay tính chất được xếp đặt theo một trình tự nhất định theo yêu cầu của chủ thể.
Như vậy tính hệ thống của chính sách cần được xem xét trên các mặt: 11 Luan van - Chính sách mới ban hành có đúng là chính chính sách không hay chỉ là những biện pháp thực thi chính sách. - Chính sách mới ban hành có phù hợp với hệ thống đã có không - Chính sách mới ban hành có trợ giúp gì cho hệ thống chính sách đã có không Việc phân tích chính sách còn để thấy sự phù hợp giữa chính sách với môi trường. Chủ thể ban hành chính sách cũng không ngoài mục đích duy trì sự tồn tại và phát triển của tổ chức trong môi trường. Môi trường của tổ chức là môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, tụ nhiên… và những yếu tố này cũng thường xuyên biến động.
Để tổ chức không thất bại trước những thách thức môi trường, chủ thể quản lý phải dùng chính sách tạo động lực trực tiếp cho tổ chức để tổ chức đứng vững cũng như có những biến đổi cần thiết phù hợp với yêu cầu biến đổi môi trường. Phân tích chính sách còn để thấy được lòng tin của người thực hiện với chủ thể ban hành. Việc chủ thể ban hành và người thực thi có cùng lợi ích nên ý chí của chủ thể cũng là nguyện vọng của người thực thi và ngược lại khi họ có nguyện vọng chính đáng thì chủ thể sẽ ban hành chính sách để đáp ứng. Sự tác động qua lại giữa chủ thể và người thực thi chính sách sẽ từng bước củng cố mối quan hệ giữa họ, làm cho lòng tin người thực thi chính sách đặt hết vào chủ thể.
Kết quả quan hệ đó sẽ là nền tảng của mọi quá trình chính sách, là yếu tố quyết định sự thành bại của một chính sách. * Quy trình chính sách công: Quy trình chính sách công có nhiều cách tiếp cận khác nhau, Với mỗi loại vấn đề mà chính sách công cần giải quyết, chính sách công là một chuỗi các chu trình bao gồm những những mắt khâu cơ bản sau: - Xác định vấn đề chính sách: Đây là bước nhận thức vấn đề và xác định vấn đề chính sách để đưa vào chương trình nghị sự. Khuôn khổ vấn đề, làm thế nào để xác định vấn đề, những vấn đề đó sẽ được giải quyết thế nào ở các bước tiếp theo. Vấn đề được nhận thức từ sự chênh lệch của thực tế so với mong muốn.
Xác định vấn đề có thể do tự mình đưa ra vấn đề hoặc có thể do đề xuất nghiên cứu vấn đề đó từ cấp trên. 12 Luan van Xác định vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cần thiết, bởi sự không rõ ràng của vấn đề chính sách đòi hỏi cần phải nhận định được vấn đề, để có cơ sở cần phải đưa ra chính sách gì giải quyết vấn đề. Chủ thể trong chương trình nghị sự Là những người làm công tác quản lý Nhà nước, tuy nhiên cũng không giới hạn. Xác lập chương trình nghị sự được xác lập bên trong và xác lập bên ngoài.
- Hoạch định chính sách: Mắt khâu này có ý nghĩa rất quan trọng trong chu trình chính sách. Một chính sách có phù hợp với thực tiễn hay không phụ thuộc vào cơ bản vào khâu hoạch định chính sách. Một chính sách phù hợp với thực tiễn phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản trong quá trình hoạch định, phải trên cơ sở thực tiễn và bắt nguồn từ thực tiễn. Chính sách công sẽ không phát huy hiệu quả nếu xa rời thực tiễn, không bắt nguồn từ thực tiễn.
Chỉ khi được xây dựng từ yêu cầu của thực tiễn, từ những đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, chính sách công mới có thể góp phần giải quyết các vấn đề của thực tiễn. - Thực thi chính sách: Đây cũng là khâu đóng vai trò quan trọng vào hiệu quả, hiệu lực của chính sách. Một chính sách được xây dựng phù hợp với thực tiễn nhưng quá trình thực thi không đạt yêu cầu thì cũng không có giá trị với thực tiễn. Thực thi chính sách đòi hỏi các chủ thể tham gia và thực hiện phải nắm được yêu cầu cơ bản của chính sách.
Thực thi chính sách có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công hay thất bại của một chính sách - Đánh giá chính sách: Đây là khâu nhàm đánh giá tác động của chính sách đối với thực tiễn, chỉ ra những mặt được và chưa được của chính sách, từ đó có những điều chỉnh bổ sung cho phù hợp hoặc tiếp tục phát huy những hiệu quả của chính sách đối với thực tiễn. Khâu này cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong chu trình chính sách, để luôn có những chính sách phát huy được hiệu quả trên thực tế. * Ý nghĩa, tầm quan trọng của của tổ chức thực hiện chính sách công Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác động đến các đối tượng nên cũng được coi như những dạng thức vật chất đặc biệt, vì vậy chính sách chỉ được thực hiện hóa khi nó tham gia vào quá trình thực thi chính sách công là yêu cầu tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của chính sách 13 Luan van với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và cũng là mục tiêu mà chính sách theo đuổi. Như vậy có thể hiểu việc tổ chức thực thi chính sách đưa ra là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả.
Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống. Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn.