Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách đối ngoại của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ luôn là tâm điểm chú ý của quan hệ quốc tế đương đại, đặc biệt khi có sự chuyển giao quyền lực hoặc tái định hình chiến lược toàn cầu. Dưới thời chính quyền Tổng thống Barack Obama, Washington đã thực hiện bước chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó coi trọng vai trò của khu vực Đông Nam Á như một địa bàn then chốt để duy trì vị thế lãnh đạo và bảo vệ các lợi ích quốc gia lâu dài.

Trong nhiều thập niên, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Myanmar rơi vào tình trạng đối đầu căng thẳng và đóng băng, đặc biệt sau cuộc bầu cử năm 1990 khi chính quyền quân sự từ chối chuyển giao quyền lực cho lực lượng đối lập. Tuy nhiên, từ đầu năm 2011, khi chính quyền dân sự do Tổng thống Thein Sein đứng đầu triển khai hàng loạt cải cách chính trị, kinh tế và xã hội sâu rộng, Hoa Kỳ đã nhanh chóng điều chỉnh chính sách từ bao vây, cô lập và cấm vận toàn diện sang tiếp xúc thực dụng và can dự có điều kiện. Bước chuyển dịch này gắn liền với chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ nhằm kiềm chế sự gia tăng ảnh hưởng của các cường quốc đối thủ, đặc biệt là Trung Quốc, tại một quốc gia có vị trí địa chiến lược quan trọng.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quang Hiển tập trung giải quyết ba mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát tiến trình chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ năm 1947 đến năm 2008; tìm hiểu và phân tích những cơ sở bên trong, bên ngoài cũng như mục tiêu dẫn đến sự điều chỉnh chính sách của Washington dưới thời Tổng thống B. Obama.
  2. Phân tích nội dung triển khai điều chỉnh chính sách đối ngoại của chính quyền B. Obama đối với Myanmar trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị – ngoại giao và an ninh – quân sự trong giai đoạn 2009 – 2014; từ đó làm rõ vị trí, vai trò của Myanmar trong chiến lược khu vực của Hoa Kỳ.
  3. Đưa ra đánh giá tổng quan về bước chuyển biến này, phân tích tác động đối với cả hai quốc gia và khu vực, dự báo triển vọng thực thi chính sách trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời đề xuất một số kiến nghị đối sách cho Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trên các trụ cột chính: kinh tế, chính trị – ngoại giao và an ninh – quân sự. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian được xác định từ năm 2009 đến năm 2014 (tương ứng với nhiệm kỳ đầu và nửa đầu nhiệm kỳ hai của Tổng thống B. Obama); phạm vi không gian là không gian quan hệ song phương Hoa Kỳ – Myanmar trong bối cảnh địa chính trị khu vực Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế, lịch sử ngoại giao và quy luật vận động của các hình thái chính trị – xã hội.

Về mặt thao tác học thuật, tác giả kết hợp hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ đạo:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, phát triển của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ đối với Myanmar theo trình tự thời gian từ năm 1947 đến năm 2014, gắn liền với các bối cảnh lịch sử cụ thể qua từng thời kỳ Tổng thống Hoa Kỳ.
  • Phương pháp logic: Phân tích bản chất, nguyên nhân nội tại, động cơ chiến lược và quy luật chuyển dịch chính sách từ cấm vận sang can dự thực dụng; xâu chuỗi các nhân tố tác động để rút ra kết luận khoa học.

Bên cạnh đó, đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp bổ trợ như: phân tích – tổng hợp tư liệu, so sánh – đối chiếu các giai đoạn chính sách, và thống kê dữ liệu định lượng về kinh tế, viện trợ, ngoại giao. Nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm các công trình nghiên cứu chuyên khảo, sách chuyên khảo xuất bản trong nước (như các công trình của GS. Nguyễn Thiết Sơn, PGS. Nguyễn Thái Yên Hương, PGS. Tạ Minh Tuấn, PGS. Nguyễn Duy Dũng), các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quan hệ quốc tế và lịch sử thế giới, báo cáo của các tổ chức tư vấn chính sách quốc tế (như CSIS), tài liệu thống kê từ USAID, WB, IMF và các bài viết trên các tạp chí học thuật chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trước giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (1947 – 2008)

Chương này trình bày bức tranh tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử Myanmar và tiến trình quan hệ song phương Hoa Kỳ – Myanmar trước năm 2009 qua hai giai đoạn lớn:

  • Vài nét về Myanmar: Quốc gia có diện tích 678.500 $\text{km}^2$, đường bờ biển dài 2.965 km, tiếp giáp 5 nước gồm Trung Quốc (2.185 km biên giới), Thái Lan, Lào, Ấn Độ và Bangladesh. Dân số tính đến tháng 7/2010 đạt 59,1 triệu người với 135 tộc người (người Miến chiếm 68%, Shan 9%, Karen 8%, Kachin 7%, Rakhine 4%); Phật giáo là quốc giáo chiếm 89,3% dân số. Về tài nguyên, Myanmar nắm giữ 3/4 trữ lượng gỗ tếch thế giới, giàu khoáng sản, đá quý và sở hữu trữ lượng dầu khí lớn. Về hành chính, đất nước được phân chia thành 7 bang và 7 vùng hành chính.
  • Giai đoạn 1947 – 1990: Hoa Kỳ công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Myanmar vào năm 1947, nâng lên cấp Đại sứ năm 1948. Giai đoạn 1950 – 1962, quan hệ phát triển thông qua các chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ cho chính phủ Thủ tướng U Nu. Sau cuộc đảo chính quân sự năm 1962 của Tướng Ne Win, quan hệ xấu đi do Myanmar theo đuổi chính sách không liên kết và từ chối viện trợ Mỹ. Từ năm 1974 đến 1988, hai nước cải thiện quan hệ nhờ hợp tác phòng chống tội phạm ma túy. Biến cố chính trị năm 1988 cùng cuộc đảo chính của Tướng Saw Maung đã khiến Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ, chỉ duy trì hỗ trợ y tế cộng đồng và phòng chống HIV/AIDS (hơn 1 triệu USD), chuyển sang gây sức ép dân chủ, nhân quyền.
  • Giai đoạn 1990 – 2008: Sau khi chính quyền quân sự bác bỏ kết quả tổng tuyển cử tháng 5/1990 (Đảng NLD thắng 59% phiếu và 81% số ghế), Hoa Kỳ hạ cấp quan hệ xuống đại biện lâm thời. Washington liên tục thắt chặt các biện pháp trừng phạt: cấm cấp thị thực cho quan chức quân sự (1997), cấm đầu tư mới (sắc lệnh của Tổng thống B. Clinton năm 1997), cấm giao dịch thương mại bằng đồng USD và ban hành Chỉ thị hành pháp số 13319 đóng băng tài sản quan chức (2003). Kim ngạch xuất khẩu của Myanmar sang Mỹ đạt 456 triệu USD năm 2001 (70% là dệt may) đã sụt giảm hoàn toàn về mức 0 vào năm 2004. Sau vụ đàn áp phong trào biểu tình của các nhà sư năm 2007, Hoa Kỳ tiếp tục cấm nhập khẩu ngọc bích, ruby và phủ quyết các khoản vay của Myanmar tại IMF, WB, ADB.

CHƯƠNG 2. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014)

Chương 2 làm rõ các căn nguyên thúc đẩy sự thay đổi và những biện pháp triển khai cụ thể của chính quyền B. Obama đối với Naypyidaw:

  • Cơ sở điều chỉnh chính sách:
    • Nhân tố bên trong: Khủng hoảng tài chính 2008 làm sụp đổ nhiều định chế lớn (Countrywide Financial, Lehman Brothers với 26.000 nhân viên), kéo tăng trưởng GDP xuống mức khoảng -3%, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 9 – 10%, nợ công vượt 12 nghìn tỷ USD vào tháng 12/2009. Cùng với đó là sự sa lầy và gánh nặng chi phí khổng lồ tại chiến trường Afghanistan (gần 180 tỷ USD giai đoạn 2001 – 2008) và Iraq (khoảng 600 tỷ USD giai đoạn 2003 – 2008). Học thuyết Obama ra đời với trọng tâm sử dụng "sức mạnh thông minh" và chuyển hướng chiến lược sang "Thế kỷ Thái Bình Dương".
    • Nhân tố bên ngoài: Châu Á – Thái Bình Dương trở thành trung tâm kinh tế năng động (chiếm 30% xuất khẩu toàn cầu, thương mại với Mỹ vượt 1.000 tỷ USD/năm); vai trò ngày càng tăng của ASEAN với thị trường 600 triệu dân; sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quân sự tại Biển Đông và Ấn Độ Dương; vị trí địa chiến lược yết hầu của Myanmar (ngã tư kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trữ lượng dầu ước tính 600 triệu thùng, khí đốt 88 nghìn tỷ khối feet - tcf); và các bước cải cách dân chủ rõ nét tại Myanmar từ tháng 3/2011 dưới thời Tổng thống Thein Sein (ân xá 14.758 tù nhân, hòa giải với bà Aung San Suu Kyi).
  • Nội dung điều chỉnh cơ bản:
Lĩnh vực Nội dung điều chỉnh và biện pháp thực thi chính (2009 – 2014)
Kinh tế – Thương mại & Viện trợ - Tháng 7/2012, bãi bỏ phần lớn cấm vận đầu tư (gồm dầu khí), cho phép doanh nghiệp Mỹ cung cấp dịch vụ tài chính; quy định doanh nghiệp đầu tư trên 500.000 USD phải báo cáo Bộ Ngoại giao.
- Các tập đoàn GE, PepsiCo, Coca-Cola tiến vào thị trường; vốn FDI Mỹ tính đến 31/12/2011 đạt 241,497 triệu USD với 15 dự án (xếp thứ 9).
- Kim ngạch thương mại song phương phục hồi: đạt 65,8 triệu USD (2012), 175,7 triệu USD (2013), và 113,3 triệu USD (8 tháng đầu năm 2014); ký Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA) tháng 5/2013.
- USAID khôi phục hoạt động: viện trợ 38,5 triệu USD (2011), 38,1 triệu USD (2012), 38 triệu USD (2013); Tổng thống Obama cam kết gói viện trợ 170 triệu USD (19/11/2012) trong 2 năm; cấp 24 triệu USD chống sốt rét (12/2012), 2,73 triệu USD cho bang Rakhine; triển khai dự án hạ tầng 2 tỷ USD và 11 triệu USD hỗ trợ bầu cử 2015.
Chính trị – Ngoại giao - Nâng cấp quan hệ ngoại giao: cử Đặc phái viên (8/2011), trao đổi Đại sứ (1/2012), phê chuẩn ông Derek Mitchell làm Đại sứ chính thức (6/2012).
- Các chuyến thăm cấp cao: Ngoại trưởng Hillary Clinton thăm Myanmar (12/2011); Tổng thống B. Obama thăm lịch sử ngày 19/11/2012; Tổng thống Thein Sein dự Đại hội đồng LHQ (9/2012) và thăm Washington.
- Gỡ bỏ tên Tổng thống Thein Sein và Chủ tịch Hạ viện Shwe Mann khỏi danh sách đen (20/09/2012); bãi bỏ lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa Myanmar (26/09/2012).
- Tăng cường can dự đối thoại nhân quyền (tháng 10/2012), thúc đẩy sửa đổi Hiến pháp 2008, ban hành Đạo luật Truyền thông (18/03/2014), ký Nghị định thư bổ sung với IAEA về không phổ biến vũ khí hạt nhân.
An ninh – Quân sự - Hợp tác tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong Chiến tranh thế giới thứ hai (từ tháng 12/2011).
- Tổ chức các chuyến tiếp xúc cấp cao: đoàn do Trợ lý Ngoại trưởng M. Posner và Tư lệnh Lục quân Thái Bình Dương - Trung tướng Francis Wiercinski dẫn đầu (10/2012); đối thoại pháp luật quân sự quốc tế do Thượng tá Robert Sanders phụ trách (3/2013).
- Mời quân đội Myanmar tham gia làm quan sát viên tại cuộc tập trận chung Hổ mang vàng (Cobra Gold) lần thứ 32 tại Thái Lan (11/02/2013).
- Hợp tác diễn tập đa phương dưới cơ chế ASEAN: diễn tập cứu trợ nhân đạo tại Brunei và diễn tập chống khủng bố tại Indonesia (2013). Duy trì cấm đầu tư vào các doanh nghiệp do quân đội kiểm soát.

Phương châm chỉ đạo của Washington trong giai đoạn này mang đặc trưng rõ nét: chính trị đi trước, kinh tế theo sau, can dự có điều kiện và phân kỳ từng bước.

CHƯƠNG 3. Đánh giá sơ bộ về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014) và triển vọng thực thi chính sách này trong thời gian sắp tới

Chương 3 tổng kết các hệ quả và dự báo xu hướng tương lai:

  • Tác động đối với Myanmar: Giúp Myanmar phá vỡ thế bao vây cô lập quốc tế kéo dài hơn hai thập kỷ; củng cố tính chính danh của tiến trình dân chủ hóa. Đảng NLD tham gia bầu cử bổ sung ngày 01/04/2012 và giành 43/45 ghế. Kinh tế chuyển biến rõ nét: năm 2012 GDP tăng trưởng 6,3%, dòng vốn FDI tăng 40% lên 3,99 tỷ USD (nâng tổng giá trị FDI vượt 40 tỷ USD); Ngân hàng Thế giới (WB) chính thức tái viện trợ từ 02/11/2012 sau 25 năm gián đoạn. Myanmar được nâng cao vị thế khu vực, lần đầu tiên đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2014; EU khôi phục ưu đãi thuế quan GSP và viện trợ 90 triệu Euro/năm.
  • Tác động đối với Hoa Kỳ: Giúp hiện thực hóa chiến lược xoay trục/tái cân bằng sang châu Á; tạo bàn đạp chiến lược kiểm soát an ninh hàng hải tại vịnh Bengal và biển Andaman; từng bước kiềm chế sự ảnh hưởng độc tôn của Trung Quốc tại Myanmar; đồng thời mở ra không gian kinh tế, năng lượng tiềm năng cho các tập đoàn đa quốc gia của Mỹ.
  • Triển vọng và đối sách của Việt Nam: Khóa luận dự báo mối quan hệ này sẽ tiếp tục phát triển nhưng vẫn chịu sự chi phối bởi các vấn đề cải cách thể chế và nhân quyền nội bộ Myanmar. Đối với Việt Nam, sự mở cửa của Myanmar mang lại cơ hội mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư trong khuôn khổ ASEAN, song cũng tạo ra sự cạnh tranh về thu hút dòng vốn FDI và thị trường. Việt Nam cần theo dõi sát sao, ứng xử linh hoạt, giữ vững nguyên tắc đồng thuận ASEAN và cân bằng quan hệ với các nước lớn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và trích xuất một hệ thống số liệu định lượng và sự kiện lịch sử xác thực về quan hệ song phương giai đoạn 2009 – 2014:

  • Thống kê chi tiết các khoản viện trợ của cơ quan USAID: 38,5 triệu USD (2011), 38,1 triệu USD (2012), 38 triệu USD (2013), cam kết 170 triệu USD (năm 2012), 24 triệu USD chống sốt rét và 2,73 triệu USD cứu trợ nhân đạo tại bang Rakhine.
  • Xác lập mốc tăng trưởng thương mại song phương: từ điểm đáy năm 2004 vươn lên đạt 65,8 triệu USD năm 2012, 175,7 triệu USD năm 2013 và 113,3 triệu USD trong 8 tháng đầu năm 2014.
  • Ghi nhận các chỉ số kinh tế của Myanmar sau khi bình thường hóa quan hệ: tăng trưởng GDP đạt 6,3% năm 2012, dòng vốn FDI tăng 40% lên mức 3,99 tỷ USD, đưa tổng FDI vượt mốc 40 tỷ USD.

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã:

  1. Hệ thống hóa có phương pháp tiến trình vận động trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ năm 1947 đến năm 2014, làm rõ tính liên tục và sự chuyển biến qua các đời Tổng thống Mỹ.
  2. Phân tích rõ nét mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố nội bộ của Mỹ (khủng hoảng tài chính, học thuyết Obama), nhân tố khu vực (sự trỗi dậy của Trung Quốc, vai trò ASEAN) và sự chủ động cải cách của chính quyền Thein Sein.
  3. Cung cấp góc nhìn thực tiễn về tác động nhiều chiều của chính sách này đối với an ninh khu vực Đông Nam Á và đưa ra khuyến nghị tham khảo cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện khách quan và chủ quan của tác giả tại thời điểm năm 2015:

  • Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu được khai thác gián tiếp từ sách báo, tạp chí khoa học và các nguồn tin tức truyền thông, chưa thể tiếp cận trực tiếp các văn kiện lưu trữ ngoại giao gốc của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hoặc hồ sơ thực tế tại Myanmar.
  • Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2014, do đó chưa bao quát được toàn bộ kết quả của cuộc tổng tuyển cử lịch sử năm 2015 tại Myanmar cũng như những chuyển biến chính sách trong nửa cuối nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống B. Obama.

Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm việc theo dõi tác động của cuộc tổng tuyển cử năm 2015, đánh giá sự điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối với Myanmar dưới thời chính quyền Tổng thống Donald Trump và biến động quan hệ sau các biến cố chính trị tại Myanmar từ năm 2021 trở đi.


Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế và Đông Nam Á học.

Đặc biệt, các nội dung sau có giá trị học thuật cao cho người nghiên cứu đề tài tương tự:

  • Khung tư liệu lịch sử ngoại giao Hoa Kỳ – Myanmar giai đoạn 1947 – 2008 tại Chương 1.
  • Bảng tổng hợp các sự kiện, chỉ số kinh tế, viện trợ của USAID và tiến trình tiếp xúc quân sự (tập trận Cobra Gold, tìm kiếm MIA) tại Chương 2.
  • Phương pháp phân tích động cơ điều chỉnh chính sách dựa trên thuyết "sức mạnh thông minh" và cạnh tranh nước lớn tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Câu hỏi thường gặp

1. Trước năm 2009, nguyên nhân cốt lõi nào khiến quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ – Myanmar bị hạ cấp và đóng băng?
Nguyên nhân trực tiếp bắt nguồn từ việc chính quyền quân sự Myanmar không công nhận kết quả cuộc tổng tuyển cử tháng 5/1990 (nơi Đảng NLD giành được 59% số phiếu và 81% số ghế). Hoa Kỳ đã hạ cấp đại diện ngoại giao từ Đại sứ xuống Đại biện lâm thời, đồng thời áp đặt hàng loạt lệnh trừng phạt kinh tế, hạn chế đầu tư và cấm vận tài chính kéo dài do các quan ngại về dân chủ và nhân quyền.

2. Giai đoạn 2009 – 2014, Hoa Kỳ và Myanmar đã tiến hành những bước tiếp xúc an ninh – quân sự cụ thể nào?
Hai bên đã khôi phục hợp tác tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong Chiến tranh thế giới thứ hai (12/2011); phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ (gồm Trung tướng Francis Wiercinski) thăm Myanmar (10/2012); Myanmar lần đầu tiên tham gia với tư cách quan sát viên cuộc tập trận Cobra Gold lần thứ 32 tại Thái Lan (11/02/2013); tổ chức đối thoại pháp luật quân sự quốc tế (3/2013) và cùng tham gia diễn tập cứu trợ nhân đạo tại Brunei, chống khủng bố tại Indonesia dưới sự điều phối của ASEAN.

3. Sự kiện ngoại giao nào mang tính biểu tượng cao nhất đánh dấu sự tan băng hoàn toàn trong quan hệ hai nước?
Đó là chuyến thăm chính thức của Tổng thống Barack Obama tới Myanmar vào ngày 19/11/2012. Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đến thăm Myanmar, đánh dấu sự công nhận cao nhất đối với các nỗ lực cải cách của Tổng thống Thein Sein và thể hiện cam kết can dự chiến lược của Washington.

4. Dòng vốn viện trợ và thương mại song phương Hoa Kỳ – Myanmar chuyển biến ra sao trong giai đoạn 2011 – 2014?
Thương mại hai chiều từ mức 0 USD năm 2004 đã tăng lên 65,8 triệu USD (2012), 175,7 triệu USD (2013) và 113,3 triệu USD (8 tháng đầu 2014). Về viện trợ, USAID duy trì cấp khoảng 38 triệu USD mỗi năm (2011 – 2013) và Tổng thống Obama đã cam kết khoản viện trợ bổ sung 170 triệu USD trong chuyến thăm năm 2012 để phát triển xã hội dân sự và giáo dục.

5. Cơ sở địa chiến lược nào của Myanmar khiến Hoa Kỳ đặc biệt chú trọng khi triển khai chiến lược "Thế kỷ Thái Bình Dương"?
Myanmar giữ vai trò là "ngã tư chiến lược" kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, sở hữu 2.965 km bờ biển kiểm soát các tuyến hàng hải qua vịnh Bengal và eo biển Malacca. Nước này có đường biên giới giáp cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ, cùng nguồn tài nguyên năng lượng dồi dào (600 triệu thùng dầu, 88 nghìn tỷ khối feet khí đốt), đóng vai trò then chốt trong việc kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc sang Nam Á và Đông Nam Á.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quang Hiển đã phản ánh toàn diện tiến trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar giai đoạn 2009 – 2014 từ thế bao vây, cô lập sang can dự thực dụng và linh hoạt. Nghiên cứu làm sáng tỏ các động lực sâu xa thúc đẩy sự chuyển dịch này xuất phát từ nhu cầu giải quyết khó khăn nội tại của nền kinh tế Mỹ, yêu cầu triển khai chiến lược tái cân bằng sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương và sự chủ động cải cách thể chế của chính quyền Myanmar. Công trình cung cấp một hệ thống dữ liệu lịch sử xác thực, có giá trị khoa học và thực tiễn đối với việc nghiên cứu quan hệ quốc tế tại Đông Nam Á.