Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách đào tạo lại nhân lực công nghệ đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp; - Chương 2. Thực trạng chính sách đào tạo lại nhân lực công nghệ của các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông; - Chương 3. Giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo lại nhân lực công nghệ đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông.
CƠ SỞ LY LUẬN VE CHÍNH SÁCH DAO TAO LAI NHÂN LUC CONG NGHE DAP UNG YEU CAU DOI MOI CONG NGHE CUA DOANH NGHIEP 1. Cac khai niém co ban 1. Khai niệm chính sách Các khái niệm về chính sách trong đó các chính sách có thé được lập ra và thực thi ở nhiều tầng lớp khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, các tô chức chính trị xã hội, doanh nghiép,.nham giải quyết những van dé đặt ra cho mỗi tô chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó. Có nhiêu quan điêm, nhiêu cách tiêp cận khác nhau của nhiêu học giả và các nhà khoa hoc trong vả ngoài nước vê chính sách sau đây là cách mà các nhà khoa học các học giả đưa ra định nghĩa mà tác giả nghiên cứu được: Theo Từ điển tiếng Việt, “chính sách là văn bản sách lược, các chủ truong và kế hoạch, biện pháp cụ thể nhằm thực hiện đường lối và nhiệm vụ trong một thời kỳ lịch sử nhất định được dé ra dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực té”.
- Theo Vũ Cao Dam, 2011, Giáo trình khoa học chính sách, NXB Dai học quốc gia Hà Nội, “chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thé quan lý tác động vào đổi tượng quan lý nham thúc day đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. Các học giả khác, Kilpatrick Dean, 2000. Dinh nghĩa về chính sách công và pháp luật như sau: “Chính sách công được hiểu là hệ thống các biện 11 pháp hành động, biện pháp quan lý, bằng pháp luật nhằm wu tiên giải quyết một chủ dé nhất định do một cơ quan chính phủ hoặc đại diện của ho tiễn hành”. Cách định nghĩa này gần giống với cách định nghĩa của Guy Peters: “Chính sách công là toàn bộ hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dan”.
- James Anderson, 2003, Public Policy Analysis-An Introduce. Prentice Hall, đưa ra một định nghĩa chung hơn: “Chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyén chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân ”; hoặc “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các van dé mà họ quan tâm”. Như vậy, theo quan niệm của Guy Peters thì chính sách công phải liên quan đến nhà nước, còn quan niệm của James E. Anderson thì quá trình hoạch định chính sách thì ngoài nhà nước còn liên quan đến các chủ thể khác trong xã hội.
Theo Vũ Cao Đàm (2011), trong các loại chính sách chung lại có các chính sách riêng đối với từng lĩnh vực, ví dụ: trong chính sách kinh tế có các chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách tiền tệ — tin dụng, chính sách thu nhập, chính sách thuế, chính sách tài khóa (tài chính), chính sách phát triển các ngành kinh tế, chính sách phát triển các loại thị trường,. Trong chính sách xã hội có chính sách lao động và việc làm, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách bảo vệ sức khỏe toàn dân, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách bảo vệ môi trường. Chính sách về nông nghiệp có chính sách nông thôn mới, chính sách tam nông, chính sách khoán 10 trong nông nghiệp. Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau, có chính sách chung, 12 chính sách cụ thể tùy thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Chính sách được thực thi khi được thê chế hóa bằng pháp luật. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tô chức (doanh nghiệp, đơn vi sự nghiệp công lập, tô chức xã hội,.); Tổng hợp từ tất cả các cách tiếp cận trên, Luận van sử dụng định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà chủ thé quyén lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi đối với một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động cua họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên đó trong chién luoc phat triển của một hệ thong xã hội ”. Khải niệm nhân lực công nghệ Từ khái niệm nguồn nhân lực, có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm nhân lực công nghệ theo nghĩa hẹp hơn: Là nguồn nhân lực đang hoạt động trong lĩnh vực công nghệ. Một cách hiểu khác, nhân lực công nghệ là đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư và kỹ thuật viên, bao gồm: những người làm nghiên cứu phát triển công nghệ, triển khai ứng dụng công nghệ, phổ biến công nghệ, những người làm kỹ thuật có tay nghề, kinh nghiệm, hiểu biết về công nghệ đang làm các công việc liên quan trực tiếp đến công nghệ; Như vậy, nhân lực công nghệ là sự tổng hợp cả 2 tiêu chi bao gồm: - Những người có bang cấp trình độ tay nghề trở lên và làm việc trong lĩnh vực công nghệ; - Những người được coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực công nghệ nhưng không có bằng cấp.
13 Ngoài ra, còn có những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ với trình độ kỹ năng thấp, không ở mức ngang bằng với những người có trình độ tay nghề cũng được tính vào nguồn nhân lực công nghệ. Nhân lực công nghệ ở đây được hiéu theo nghĩa rat rộng, nó đề cập đến toàn bộ đội ngũ tiềm tàng/tiềm năng chứ không chỉ đội ngũ hay vốn nhân lực công nghệ đang tham gia hoạt động công nghệ. Khái niệm đào tạo và đào tạo lại Theo Cascio Wayne F (1995), đào tạo là một nỗ lực có tổ chức và có kế hoạch nhằm cung cấp cho nhân lực những kiến thức cụ thé, đồng thời cải thiện và phát trién các kỹ năng và năng lực của họ, thay đổi hành vi và hướng đi của họ theo hướng tích cực và mang tính xây dựng. Ông nhắn mạnh việc xác định khái niệm đào tạo, đào tạo và phát triển là một chuyên ngành phụ của các lĩnh vực nhân lực trong các tô chức liên quan đến việc xác định, ước tính và phát triển các năng lực chính của nhân lực (kiến thức, kỹ năng và thái độ), thông qua giáo dục có kế hoạch, giúp các cá nhân thực hiện công việc hiện tại và tương lai một cách có hiệu quả.
Có nhiều loại hình đào tạo khác nhau, những loại hình này có thể được xác định là những hoạt động phát triển nhân lực, chúng cũng có thể được xác định trên các loại hệ thống đào tạo hoặc theo quan điểm khác nhau. Đào tạo trong công việc là tiễn hành kèm cặp tại chỗ (ví dụ; hình thức truyền nghề trực tiếp) ngay tại nơi làm việc, thông qua công việc dé trực tiếp dao tạo hoặc luân phiên thay đổi công việc dé người lao động có thé nắm bắt được những kiến thức và kỹ năng của từng công đoạn trong lĩnh vực công việc của don vi. Đào tạo ngoài công việc là việc cử người lao động đi học tại các trường, các cơ sở dạy nghề theo hình thức chính quy hoặc tại chức. Qua đó đối tượng đảo tạo có được những kiến thức và kỹ năng thực hành cơ bản, 14 phương pháp làm việc khoa học, những kiến thức và kỹ năng chuyên ngành, tong hợp, đủ khả năng thực hiện công tác chuyên môn và áp dụng công nghệ.
Đào tạo nhân lực là hoạt động nhằm cung cấp cho đối tượng những kiến thức và kỹ năng. Dao tạo nhân lực có hai hình thức cơ ban là: dao tạo từ công việc và đào tạo ngoài công việc. Sau đây là một số căn cứ dé xác định nhu cau dao tao: 1/ Phân tích mục tiêu, kế hoạch, chiến lược, chỉ số hiệu quả về mặt tổ chức của doanh nghiệp 2/ Phân tích công việc 3/ Đánh giá thực hiện công việc 4/ Ngoài ra, còn có thé sử dụng các thông tin khác dé xác định nhu cầu dao tao Chương trình dao tao là một hệ thống các hoạt động dao tạo được thiết kế và tô chức thực hiện nhằm dat được các mục tiêu dao tạo. Từ việc xác định nhu cầu đào tạo, đối tượng đào tạo và mục tiêu đào tạo như trên ta đi thiết kế chương trình đào tạo cụ thể cho từng lĩnh vực cần đào tạo và lựa chọn phương pháp đào tạo thích hợp.
Đây là việc mà cán bộ làm công tác đào tạo phải thực hiện, sau đó liên hệ với các trung tâm đào tạo để có được cơ sở đào tạo và trình bản kế hoạch đào tạo lên cấp trên phê duyệt. Đây là khâu rất quan trọng quá trình đào tạo, xây dựng chương trình đảo tạo hợp lý, phương pháp đào tạo thích hợp thì công tác đào tạo mới đạt hiệu quả. Đào tạo lại nguồn nhân lực: Là hoạt động đảo tạo nhân lực nhằm đào tạo nắm vững tri thức, kỹ năng, cách thức giao tiếp mới gắn với một ngành nghề mới hoặc đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nghé nghiệp dé giúp họ có thê thực hiện một cách hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. 15 Điểm khác của đào tạo lại so với đào tạo mới là: (1) Đào tao lại là hình thức đào tạo có kế hoạch, có tổ chức nhăm tao ra những nhân lực có trình độ trong các lĩnh vực hoạt động của con người nhằm nắm vững kỹ năng, tổ hợp trí thức chuyên môn, kinh nghiệm và phương thức giao tiếp.
(ii) Thời gian và đối thượng được xác định cụ thể. Dựa vào số lượng học viên đã được ước tính tại kế hoạch đào tạo mà lựa chọn số lượng giảng viên cho phù hợp.