Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2001)" được tác giả Nguyễn Phi Tín thực hiện năm 2005 tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Như Cương.

Bối cảnh thực tiễn được luận văn xác lập dựa trên những biến chuyển phức tạp của tình hình quốc tế và trong nước bước vào thế kỷ XXI. Trên thế giới, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc bị các thế lực phản động quốc tế lợi dụng nhằm kích động chia rẽ, ly khai, phá vỡ khối đại đoàn kết và đe dọa sự ổn định chính trị - xã hội tại các quốc gia đa dân tộc. Tại Việt Nam – một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc – vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trở thành một trong những trọng điểm của chiến lược "diễn biến hòa bình". Các luận điệu tuyên truyền sai lệch, kích động tư tưởng ly khai và bóp méo chính sách dân tộc đã tạo ra những nguy cơ bất ổn tiềm tàng. Thực tế đã phát sinh các vụ việc phức tạp như biến động chính trị tháng 2/2001 và các vụ gây rối trật tự an ninh ngày 10 và 11/4/2004 tại Đắk Lắk và Gia Lai.

Trong tiến trình lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác dân tộc có vị trí chiến lược. Bước vào thời kỳ đổi mới, Nghị quyết 07-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) tiếp tục khẳng định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nhằm nghiên cứu toàn diện đường lối và thực tiễn triển khai chính sách dân tộc của Đảng giai đoạn 1986 - 2001.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu làm rõ tính chiến lược, nhất quán của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; phân tích thực trạng quá trình thực hiện qua 15 năm đổi mới (1986 - 2001) nhằm chỉ ra các thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm và kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 2 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):

  1. Nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới, đi sâu tìm hiểu những đặc điểm của các dân tộc ở nước ta để làm rõ cơ sở khách quan ban hành chủ trương, chính sách; hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội IX nhằm chứng minh tính nhất quán của chính sách dân tộc.
  2. Tìm hiểu quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới, nêu bật những thành tựu đạt được, chỉ ra những hạn chế, yếu kém cùng nguyên nhân; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 15 năm đổi mới từ năm 1986 (Đại hội VI) đến năm 2001 (Đại hội IX).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn các vùng dân tộc thiểu số và miền núi trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và khung pháp lý:

  • Nền tảng lý luận: Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc.
  • Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, IV, V, VI, VII, VIII, IX; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991); Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000; Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị (khóa VI) về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VII, VIII, IX); Nghị quyết 07-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc.
  • Cơ sở pháp lý và chính sách nhà nước: Hiến pháp năm 1992; Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; hệ thống gồm 26 luật, bộ luật và 3 pháp lệnh quy định trực tiếp về quyền bình đẳng và chính sách dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp chuyên ngành: Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình phát triển quan điểm của Đảng qua các kỳ đại hội; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu số liệu thực tế qua các mốc thời gian và địa bàn cư trú.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu trong luận văn được khai thác từ các công trình nghiên cứu đã xuất bản (công trình của TS. Bế Trường Thành năm 2002; tài liệu của Cục Chính trị tư tưởng - Văn hóa năm 1994; các ấn phẩm của Nhà xuất bản Sự thật các năm 1990, 1992; Tạp chí Cộng sản); số liệu thống kê từ cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999; số liệu chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; kết quả điều tra năm 2003 của Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) cùng các báo cáo khảo sát tại các địa phương (Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Hà Giang).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2001)

Chương 1 tập trung phân tích 4 đặc điểm cơ bản của cộng đồng các dân tộc Việt Nam làm căn cứ khách quan cho việc hoạch định chính sách, đồng thời hệ thống hóa tiến trình đổi mới đường lối dân tộc của Đảng:

  1. Bốn đặc điểm của các dân tộc ở nước ta:

    • Truyền thống đoàn kết lâu đời: Các dân tộc hình thành ý thức cố kết quốc gia từ rất sớm trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo nên khối đại gia đình thống nhất.
    • Địa bàn cư trú rộng lớn, vị trí chiến lược: Vùng dân tộc và miền núi chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, bao gồm 19 tỉnh miền núi vùng cao, 23 tỉnh có miền núi và 10 tỉnh đồng bằng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; nắm giữ nguồn tài nguyên phong phú, rừng phòng hộ đầu nguồn và là địa bàn xung yếu về quốc phòng - an ninh, bảo vệ biên cương.
    • Quy mô dân số và trình độ phát triển không đều, cư trú xen kẽ: Theo điều tra dân số năm 1999, 53 dân tộc thiểu số chiếm 13,8% dân số cả nước. Có những dân tộc trên 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khmer), nhưng có 5 dân tộc dưới 1.000 người (Si La khoảng 840 người, Pu Péo khoảng 705 người, Rơ Măm khoảng 352 người, Brâu khoảng 313 người, Ơ Đu khoảng 301 người). Các dân tộc không có lãnh thổ tộc người riêng biệt mà cư trú xen cài (tại Tây Nguyên, trước năm 1975 người Kinh chiếm 1/2 dân số, đến thời điểm nghiên cứu đã chiếm trên 2/3 dân số toàn vùng).
    • Bản sắc văn hóa đa dạng trong tính thống nhất: Nền văn hóa Việt Nam là sự tích hợp các giá trị văn hóa độc đáo, phong phú của từng tộc người.
  2. Sự phát triển chủ trương, chính sách dân tộc qua các kỳ Đại hội Đảng:

    • Đại hội VI (1986): Phê phán những sai lầm của thời kỳ 1975 - 1985 (áp đặt rập khuôn mô hình đồng bằng, nóng vội xây dựng hợp tác xã quy mô lớn, quan liêu, bao cấp); đề ra nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và phương châm "Trung ương và địa phương cùng làm", kết hợp tự lực cánh sinh với hỗ trợ của Nhà nước; phân bố lại dân cư và lao động xã hội.
    • Nghị quyết 22-NQ/TW (1989) và Đại hội VII (1991): Chuyển nền kinh tế miền núi sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; thừa nhận và phát huy kinh tế hộ gia đình, giao đất giao rừng; điều chỉnh quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất; thể chế hóa quyền bình đẳng dân tộc trong Hiến pháp năm 1992.
    • Đại hội VIII (1996): Đề ra 3 mục tiêu chủ yếu đến năm 2000 (xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống; xóa mù chữ, nâng cao dân trí; củng cố hệ thống chính trị cơ sở) và chủ trương xây dựng Luật Dân tộc.
    • Đại hội IX (2001) và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) - Nghị quyết 07-NQ/TW: Tổng kết toàn diện với 5 quan điểm chỉ đạo cốt lõi, xác lập mục tiêu đến năm 2010 (cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm, phổ cập THCS, trên 90% hộ có điện và nước sinh hoạt, 90% dân số xem truyền hình, 100% nghe đài phát thanh), cùng 4 nhóm giải pháp: nâng cao nhận thức, hoàn thiện cơ chế chính sách, kiện toàn tổ chức - cán bộ và đổi mới công tác vận động quần chúng.

Chương 2: Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2001)

Chương 2 phân tích kết quả thực tiễn triển khai chính sách trên các mặt kinh tế, văn hóa - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị và an ninh quốc phòng; chỉ rõ các mặt hạn chế, nguyên nhân và rút ra hệ thống bài học kinh nghiệm:

  1. Thành tựu chủ yếu:

    • Kinh tế: Cơ cấu ngành kinh tế vùng dân tộc, miền núi chuyển dịch tích cực: tỷ trọng nông - lâm nghiệp giảm từ 76% (năm 1990) xuống 56,3%; công nghiệp - xây dựng tăng từ 9% lên 18,4%; dịch vụ tăng từ 15% lên 25,3%. Tốc độ luân chuyển hàng hóa giai đoạn 1996 - 2001 tăng 15 - 20%/năm. Hạ tầng phát triển với 97,12% số xã có đường ô tô đến trung tâm, 98% số huyện và 64% số xã có điện lưới quốc gia, trên 50% số hộ dùng điện, 90% số xã phủ sóng phát thanh, 75% số xã phủ sóng truyền hình, trên 60% số xã có điện thoại.
    • Giảm nghèo và đời sống: Tỷ lệ hộ nghèo miền núi giảm mỗi năm 4 - 5%, xuống mức 25,93%. Tỷ lệ nghèo tại miền núi phía Bắc giảm từ 27% xuống 13,5%; Tây Nguyên từ 30% xuống 13,1%. Sản lượng lương thực bình quân tăng từ 230 kg lên 300 kg/người/năm.
    • Giáo dục, y tế, văn hóa: Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ; 100% số xã có trường tiểu học; hình thành mạng lưới 180 trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện, 45 trường cấp tỉnh, 7 trường cấp Trung ương (trong đó có 3 trường dự bị đại học). Mạng lưới y tế có 93,5% số xã có trạm y tế, xóa tình trạng xã "trắng" về y tế, khống chế dịch sốt rét và bướu cổ.
    • Chính trị - quốc phòng: 100% số xã có tổ chức Đảng. Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số phát triển với 130 người có trình độ trên đại học, 25.000 người có trình độ đại học/cao đẳng, 78.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp, trên 10.000 công nhân kỹ thuật. Tỷ lệ đại biểu dân tộc thiểu số trong Quốc hội khóa IX đạt 17,26% (86 đại biểu); trong HĐND nhiệm kỳ 1999 - 2004 đạt 14% (cấp tỉnh), 17% (cấp huyện) và 19% (cấp xã).
  2. Hạn chế, yếu kém:

    • Kinh tế - xã hội: Tình trạng du canh du cư, di dân tự do, phá rừng làm rẫy, suy thoái môi trường và tranh chấp đất đai còn diễn biến phức tạp. Toàn vùng còn 2.362 xã đặc biệt khó khăn; đến tháng 11/2001 còn 380.000 hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Năm 2001, cả nước còn 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,2%), tập trung cao tại Tây Bắc (33,95%), Bắc Trung Bộ (25,6%), Tây Nguyên (24,9%), Đông Bắc (22,35%). Thu nhập bình quân đầu người chênh lệch lớn: tỉnh so với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Gia Lai gấp 4,29 lần, Kon Tum gấp 1,95 lần, Lâm Đồng gấp 1,66 lần, Hà Giang gấp 2,1 lần.
    • Hệ thống chính trị cơ sở và cán bộ: Trình độ cán bộ cơ sở rất thấp; điều tra tại Bắc Kạn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La cho thấy 79,17% cán bộ xã chỉ có học vấn cấp I, II và 61,9% chưa qua đào tạo chuyên môn. Khảo sát năm 2003 của Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước: tại Tây Bắc chỉ gần 30% cán bộ cơ sở có trình độ THPT, trên 80% không có chuyên môn phù hợp; tại Tây Nguyên tỷ lệ này lần lượt là 12% và 76%. Tỷ lệ cán bộ nữ rất thấp (Tây Bắc 9,5%, Tây Nguyên 10%). Tỷ lệ đảng viên trên dân số thấp (Tây Nguyên 0,21%, miền núi phía Bắc 0,3% so với 0,4% bình quân cả nước). Vẫn còn 10 dân tộc chưa có cán bộ đại học, 40 dân tộc chưa có cán bộ trên đại học. Cơ sở vật chất thiếu thốn: trên 70% trụ sở xã ở Tây Bắc và gần 60% ở Tây Nguyên là nhà cấp 4 xuống cấp; còn 0,4% xã ở Tây Bắc và 1,9% xã ở Tây Nguyên chưa có trụ sở làm việc.
    • An ninh trật tự: Các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo và dân tộc tuyên truyền tư tưởng ly khai như "Vương quốc Mông tự trị" ở vùng núi phía Bắc, "Nhà nước Đề Ga độc lập" ở Tây Nguyên, "Nhà nước Khmer Campuchia Krom" ở Nam Bộ.
  3. Nguyên nhân: Phân tích theo hai nhóm khách quan (địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, điểm xuất phát kinh tế thấp, hậu quả lịch sử, sự chống phá của các thế lực thù địch) và chủ quan (nhận thức chưa đầy đủ, đầu tư thiếu đồng bộ, tư tưởng trông chờ ỷ lại của một bộ phận cán bộ, bộ máy quan liêu xa dân, thiếu quy hoạch đào tạo cán bộ tại chỗ và buông lỏng kiểm tra, thanh tra).

  4. Bảy bài học kinh nghiệm được tác giả tổng kết:

    • Cấp ủy Đảng phải thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối chính sách dân tộc.
    • Cụ thể hóa đường lối thành kế hoạch, phân công rõ "địa chỉ" đỡ đầu, kết nghĩa và kiểm tra đôn đốc thường xuyên.
    • Thường xuyên sơ kết, tổng kết thực tiễn để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách.
    • Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tại chỗ là người dân tộc thiểu số (xem đây là kế sách lâu dài).
    • Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với quán triệt tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giáo dục truyền thống yêu nước.
    • Lồng ghép hiệu quả chính sách dân tộc với các chương trình phát triển khác, làm có trọng tâm, trọng điểm, tránh làm ẩu và làm nửa vời.
    • Nâng cao trình độ dân trí vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo xem như nhiệm vụ chiến lược.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các chỉ số thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 1986 - 2001

Lĩnh vực Chỉ số / Nội dung ghi nhận Dữ liệu thống kê trong văn bản
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng Nông - Lâm nghiệp Giảm từ 76% (1990) xuống 56,3% (2001)
Tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng Tăng từ 9% (1990) lên 18,4% (2001)
Tỷ trọng Dịch vụ Tăng từ 15% (1990) lên 25,3% (2001)
Hạ tầng kỹ thuật miền núi Xã có đường ô tô đến trung tâm 97,12% số xã
Huyện / Xã có điện lưới quốc gia 98% số huyện; 64% số xã (trên 50% số hộ dùng điện)
Phủ sóng thông tin 90% xã phủ sóng phát thanh; 75% xã phủ sóng truyền hình
Giảm nghèo & Lương thực Tỷ lệ hộ nghèo miền núi Giảm xuống còn 25,93% (bình quân giảm 4 - 5%/năm)
Lương thực bình quân đầu người Tăng từ 230 kg lên 300 kg/người/năm
Giáo dục & Y tế Trường phổ thông DTNT 180 trường huyện, 45 trường tỉnh, 7 trường Trung ương
Mạng lưới trạm y tế xã 93,5% số xã miền núi có trạm y tế (không còn xã trắng)
Tham chính & Cán bộ Đại biểu Quốc hội khóa IX 86 đại biểu người DTTS (tỷ lệ 17,26%)
Đại biểu HĐND (1999 - 2004) Cấp tỉnh: 14%; Cấp huyện: 17%; Cấp xã: 19%
Trình độ cán bộ DTTS 130 trên ĐH; 25.000 ĐH/CĐ; 78.000 THCN; >10.000 CNKT
Tồn tại về nghèo đói Địa bàn và số hộ đặc biệt khó khăn 2.362 xã ĐBKK; 380.000 hộ DTTS ĐBKK (tháng 11/2001)
Tỷ lệ hộ nghèo theo vùng (2001) Tây Bắc: 33,95%; Bắc Trung Bộ: 25,6%; Tây Nguyên: 24,9%
Bất cập cán bộ cơ sở Khảo sát 4 tỉnh phía Bắc 79,17% cán bộ học vấn cấp I, II; 61,9% chưa qua đào tạo
Khảo sát Bộ Nội vụ (2003) Tây Bắc: >80% không có chuyên môn; Tây Nguyên: 76%

Đóng góp của khóa luận:

  • Hệ thống hóa toàn diện và có trật tự logic quá trình phát triển đường lối dân tộc của Đảng từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội IX (2001), làm rõ bước chuyển từ nhận thức mang tính rập khuôn sang chính sách toàn diện, sát hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá thực trạng 15 năm triển khai dựa trên các cứ liệu thống kê thực tế, chỉ ra cụ thể những "điểm nghẽn" về chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở và nguy cơ an ninh tư tưởng trên các địa bàn trọng yếu (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ).
  • Đúc kết 7 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác lãnh đạo và quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhận định công trình còn những hạn chế do dung lượng kiến thức và năng lực phương pháp luận. Về phạm vi, khóa luận chủ yếu tiếp cận tư liệu đến mốc năm 2001 (và cập nhật một số số liệu khảo sát đến năm 2003 - 2004), chưa đánh giá được toàn diện kết quả thực thi Nghị quyết 07-NQ/TW trong các giai đoạn tiếp sau.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Khảo sát và đánh giá giai đoạn hoàn thành mục tiêu 2010 theo Nghị quyết 07-NQ/TW; nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình sinh kế và tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở tại các tiểu vùng đặc thù như Tây Bắc hoặc Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu phục vụ trực tiếp cho giảng viên, sinh viên, học viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính trị học, Quản lý công và Xã hội học.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phần hệ thống hóa các luận điểm qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX và các văn kiện chuyên đề (Nghị quyết 22-NQ/TW năm 1989, Nghị quyết 07-NQ/TW năm 2003).
    • Hệ thống dữ liệu thống kê về cơ cấu kinh tế, giáo dục dân tộc nội trú và số liệu thực trạng cán bộ cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
    • Khung phân tích 7 bài học kinh nghiệm trong quản lý và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo số liệu điều tra dân số năm 1999 được trích dẫn trong văn bản, quy mô dân số các dân tộc thiểu số và những dân tộc có dân số ít nhất là bao nhiêu? Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999 trong khóa luận, 53 dân tộc thiểu số chiếm 13,8% dân số cả nước. Trong đó, có 5 dân tộc thiểu số có dân số dưới 1.000 người gồm: Si La (khoảng 840 người), Pu Péo (khoảng 705 người), Rơ Măm (khoảng 352 người), Brâu (khoảng 313 người) và Ơ Đu (khoảng 301 người).

2. Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra những sai lầm nào trong công tác dân tộc giai đoạn 1975 - 1985 và đưa ra định hướng khắc phục ra sao? Đại hội VI chỉ ra rằng công tác xây dựng quan hệ sản xuất ở miền núi bị rập khuôn máy móc theo mô hình đồng bằng, nặng về xây dựng cơ sở quốc doanh quy mô lớn, kìm hãm sản xuất và làm chính sách xơ cứng. Định hướng khắc phục là quán triệt phương châm "Trung ương và địa phương cùng làm", phát huy quyền làm chủ của đồng bào, chống tư tưởng cục bộ hoặc ỷ lại, kết hợp phân bố lại lao động xã hội và hỗ trợ có trọng điểm.

3. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) đặt ra các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cụ thể nào cho vùng dân tộc và miền núi đến năm 2010? Nghị quyết 07 đặt ra các mục tiêu đến năm 2010: cơ bản không còn hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%; 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; trên 90% số hộ có đủ điện và nước sinh hoạt; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 90% đồng bào được xem truyền hình và 100% được nghe đài phát thanh.

4. Văn bản nêu những số liệu nào phản ánh sự yếu kém về trình độ chuyên môn của cán bộ cơ sở tại vùng Tây Bắc và Tây Nguyên? Theo kết quả điều tra năm 2003 của Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) được trích dẫn: ở các tỉnh vùng Tây Bắc mới có gần 30% cán bộ chuyên trách cơ sở có trình độ THPT và trên 80% không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp; ở vùng Tây Nguyên, tỷ lệ có trình độ THPT chỉ đạt 12% và 76% không có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp.

5. Khóa luận ghi nhận những âm mưu tuyên truyền, kích động ly khai cụ thể nào của các thế lực thù địch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số? Các thế lực thù địch đã tuyên truyền luận điệu "Vương quốc Mông tự trị" ở vùng núi phía Bắc, kích động thành lập "Nhà nước Đề Ga độc lập" và luận điệu "Tây Nguyên là khu vực riêng của người Thượng" tại Tây Nguyên, đồng thời kích động tư tưởng đòi thành lập "Nhà nước Khmer Campuchia Krom" tại vùng đồng bào Khmer Nam Bộ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phi Tín đã hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện đường lối, chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 15 năm đầu đổi mới (1986 - 2001). Thông qua việc đối chiếu giữa chủ trương của các kỳ Đại hội với dữ liệu thực tiễn, công trình đã làm rõ những thành tựu về chuyển dịch kinh tế, phát triển hạ tầng, giảm nghèo và củng cố hệ thống chính trị, đồng thời chỉ ra những hạn chế căn bản về năng lực cán bộ cơ sở và phân hóa giàu nghèo. Các bài học kinh nghiệm được rút ra trong luận văn cung cấp cơ sở tư liệu học thuật hữu ích cho việc nghiên cứu và hoạch định chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.