Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc [15].
Dân tộc mà Hồ Chí Minh đề cập có nội hàm: Dân tộc quốc gia. Người thường dùng khái niệm: Đồng bào Việt Nam (con cùng một mẹ, theo sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ) để nói rằng, các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều có chung một nguồn cội: “Con Rồng, cháu Tiên; con Lạc cháu Hồng” đều là anh em một nhà, con cháu của các vua Hùng [18, tr. Theo từ điển Tiếng Việt, “dân tộc” được hiểu theo các nghĩa sau: Thứ nhất, dân tộc là cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách. Thứ hai, dân tộc là tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc.
Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc. Đoàn kết các dân tộc để cứu nước. Thứ ba, dân tộc chỉ dân tộc thiểu số (DTTS). Thứ tư, dân tộc là cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính 7 trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung [33, tr.
Hiện nay, khái niệm dân tộc được sử dụng trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”. Với nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch sử. Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Si La, dân tộc Bana, dân tộc Chăm. Theo nghĩa thứ hai, “dân tộc” được hiểu là “quốc gia dân tộc”.
Ví dụ như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Đức. Theo nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng chính trị - xã hội được hợp thành bởi những tộc người khác nhau trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định. Có thể thấy dân tộc hoàn toàn khác với các hình thức cộng đồng người đã hình thành từ trước khi xã hội có giai cấp như thị tộc, bộ lạc. Dân tộc là hình thức phát triển nhất và bền vững hơn bất cứ hình thức cộng đồng nào trong lịch sử.
Như vậy, dân tộc là một cộng đồng người ổn định, được hình thành trong lịch sử trên cơ sở một lãnh thổ, một ngôn ngữ, một nền kinh tế thống nhất, một nền văn hóa và tâm lý, tính cách bền vững với một nhà nước và pháp luật thống nhất. Khái niệm chính sách dân tộc Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan với nhau của nhà nước với mục tiêu, giải pháp, công cụ thực hiện cụ thể, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo ý chí của đảng cầm quyền. Chính sách dân tộc là một hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước tác động vào các dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, trực tiếp nhất vào các DTTS và miền núi. Chính sách dân tộc có nội dung rất cụ thể: về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… 8 Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam là một bộ phận quan hệ hữu cơ với công tác dân tộc, được quy định bởi quan điểm về vấn đề dân tộc, xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc.
Hiện nay, khái niệm chính sách dân tộc được luận giải phong phú: Dưới góc độ chính trị - xã hội, chính sách dân tộc là tổng hợp những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nuớc được đề ra tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc. Chính sách dân tộc mang bản chất giai cấp của nhà nước trong phạm vi đối nội và đối ngoại. Dưới góc độ quản lý nhà nước, chính sách dân tộc là hệ thống những quyết sách của Đảng, Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp để quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc nhằm thiết lập sự bình đẳng và hòa nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Từ các quan niệm trên, có thể định nghĩa chính sách dân tộc như sau: Chính sách dân tộc là thái độ quan điểm, các quyết định, quyết sách của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm bảo đảm và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS, đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Khái niệm thực hiện chính sách dân tộc Thực hiện chính sách dân tộc được hiểu là hoạt động có mục đích của con người biến chính sách, pháp luật chứa đựng chính sách thành hoạt động thực tế của các chủ thể thực hiện chính sách. Như vậy, các chủ thể thực hiện chính sách phải hành động phù hợp với mục tiêu, biện pháp, kế hoạch đã 9 được đề ra trong chính sách. Việc thực hiện chính sách có nhiều hình thức: tuân thủ chính sách, chấp hành chính sách, sử dụng chính sách, áp dụng chính sách. Thực hiện chính sách dân tộc là toàn bộ quá trình đưa chính sách dân tộc vào thực tiễn cuộc sống xã hội từ khâu hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện nguồn lực tài chính, nhân lực cần thiết bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ yêu cầu quy định trong chính sách.
Đối tượng thực hiện chính sách dân tộc là cán bộ nhà nước làm quản lý về công tác dân tộc, đối tượng hưởng lợi và các đơn vị liên quan. Như vậy, thực hiện chính sách dân tộc là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Thực hiện chính sách dân tộc tốt sẽ giúp cho các nội dung công việc được triển khai theo đúng kế hoạch, hướng tới đạt được mục đích đề ra, giúp chính sách đi vào thực tế đời sống, phù hợp với nhu cầu phát triển, nguyện vọng chung của đất nước và cộng đồng người dân tộc. Đối tượng, chủ thể, nội dung và quy trình thực hiện chính sách dân tộc 1.
Đối tượng, chủ thể thực hiện chính sách dân tộc 1. Đối tượng thực hiện chính sách dân tộc Đối tượng thực hiện chính sách dân tộc là đồng bào DTTS. Hầu hết các DTTS sinh sống ở miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa và tập trung chủ yếu ở một số tỉnh khu vực miền Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nam bộ. Cùng với việc hoạch định chính sách chung cho cả nước, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm xây dựng chính sách cho vùng DTTS và miền núi, luôn xác định công tác dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Do đặc điểm nói trên nên 10 chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng không chỉ vì lợi ích của các DTTS mà còn vì lợi ích chung của quốc gia và luôn tính tới các yếu tố về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường. Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là những nguyên nhân lịch sử để lại và do điều kiện địa lý, tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của đồng bào DTTS, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đồng đều. Một số dân tộc đã phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao, nhưng nhiều dân tộc vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển. Phần lớn các DTTS có mức sống thấp, tỷ lệ đói nghèo cao, chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số.
Một số dân tộc vẫn còn trong tình trạng tự cung tự cấp, du canh du cư, đời sống còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi các phong tục tập quán lạc hậu. Do đặc điểm này nên việc khắc phục tình trạng phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các dân tộc là một trong những mục tiêu trọng tâm nhất của chính sách dân tộc ở nước ta. Phân theo phạm vi đối tượng chính sách có 38 chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS, vùng DTTS và miền núi; 98 chính sách áp dụng chung cả nước nhưng có nội dung ưu tiên hỗ trợ cho đồng bào DTTS, vùng DTTS và miền núi. Chủ thể thực hiện chính sách dân tộc Chủ thể thực hiện chính sách dân tộc bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các tổ chức thành viên.
Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị, tuỳ theo địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà có phương thức khác nhau để thực hiện chính sách dân tộc. Bộ máy nhà nước, từ trung ương đến địa phương, quản lý nhà nước về dân tộc bằng những biện pháp, công cụ khác nhau, trong đó pháp luật là công cụ quan trọng. 11 Đảng ta luôn quan tâm, đưa ra nhiều chủ trương ưu tiên, đầu tư phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh… đối với vùng DTTS. Các chủ trương, đường lối của Đảng về chính sách dân tộc được thể hiện thông qua văn kiện các kỳ đại hội và các nghị quyết, chỉ thị chuyên đề của Đảng, được ban hành cụ thể trong từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn, với nội dung cơ bản thống nhất.
MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc, gắn phong trào quần chúng với thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh.