CHƯƠNG 1 ĐÔNG Á VÀO NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 1. Tình hình Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XIX 1. Khái quát chung Về khái niệm Đông Á: cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm Đông Á. Nếu hiểu theo phương diện địa - chính trị thì Đông Á là phần phía Đông của châu Á bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á.
Tuy nhiên, nếu hiểu theo phương diện lịch sử - văn hóa thì Đông Á là các quốc gia ở phía Đông châu Á có ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Trung Hoa, nằm trong “vùng văn hóa chữ Hán” hay “vùng văn hóa Nho giáo”. Theo cách hiểu này thì Đông Á bao gồm những nước chính là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm Đông Á theo quan niệm lịch sử - văn hóa. Bước vào thế kỷ XIX, Đông Á đang ở trong thời kỳ phong kiến.
Nếu so với các nước phương Tây đã và đang công nghiệp hóa thì đa số các quốc gia phong kiến Đông Á đều có nền kinh tế nông nghiệp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp. Chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến kìm hãm động lực sản xuất của người lao động, đời sống nông dân, người lao động nói chung là nghèo nàn. Công- thương nghiệp cũng không được khuyến khích phát triển, mọi hoạt động của thương mại đều bị trở ngại lớn, đó là chính sách “bế quan”, một chính sách mà hầu như nước Đông Á nào cũng áp dụng như một cách tự vệ trước nguy cơ xâm nhập của phương Tây. Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam… nói chung đều từ chối mở cửa thông thương với bên ngoài.
Ở Trung Quốc chính sách “bế quan” được tăng cường từ giữa đời Thanh. Cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, nhà Thanh chỉ mở một cửa biển Quảng Châu để thông thương với nước ngoài. Nhật Bản dưới sự trị vì của Shogun cũng thực thi chính sách đóng cửa, và chỉ mở cảng Nagasaki để thông thương với bên ngoài. Ở Triều Tiên, các chính quyền họ Lý cũng thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng” đối với nước ngoài.
Việt Nam cũng khước từ mọi đề nghị 9 thông thương của phương Tây. Trong lúc đó, trong khi điều quan trọng là “chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại và phát triển rộng nếu không thường xuyên mở rộng phạm vi thống trị của nó, không khai thác những xứ sở mới và không lôi cuốn các xứ sở cũ không phải tư bản chủ nghĩa vào cơn lốc kinh tế thế giới” [15; 17]. Chủ nghĩa tư bản phương Tây càng phát triển thì nhu cầu thuộc địa cũng gia tăng, nên đã tìm mọi cách mở cửa vào thị trường Đông Á, trong khi xã hội Đông Á vẫn tiếp tục ở trong “giấc mộng của sự bế quan”. Các nước Đông Á từ chối quan hệ với phương Tây, cố thủ trong một đường lối đối ngoại “tự cô lập”.
Các nước phương Tây đã bắt ép hoặc dùng ưu thế về sức mạnh quân sự buộc giai cấp cầm quyền các nước Đông Á “mở cửa”. Về phía các thế lực cầm quyền phong kiến Đông Á: đứng trước nguy cơ đe dọa độc lập quốc gia, họ lại thi hành một chính sách đối nội không đáp ứng yêu cầu và quyền lợi của đất nước, của dân tộc. Nhà nước phong kiến sử dụng ngân sách quốc gia vào những việc không cần thiết: xây lâu đài, lăng mộ… Trong lĩnh vực ăn chơi phung phí thì vua quan nhà Thanh (Trung Quốc) là ví dụ tiêu biểu nhất. Đặc biệt khi thuốc phiện được đưa vào Trung Quốc, thì phần lớn quan lại, quân lính Trung Quốc đâm ra nghiện ngập tạo nên sự tha hóa trong bộ máy chính quyền nhà nước.
Ở Việt Nam các vua Nguyễn trước nguy cơ mất nước vẫn thực hiện việc xây lăng mộ quy mô và tốn kém (việc xây dựng Vạn niên cơ của vua Tự Đức). Đa số giai cấp thống trị Đông Á về cơ bản thiếu một sự chuẩn bị đối phó với nguy cơ ngoại xâm, không tích cực xây dựng, củng cố quốc phòng, chấn hưng và phát triển kinh tế, thực hiện việc đổi mới về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, tự mình làm suy yếu mình. Trong tình thế đó, nhân dân dù có tinh thần chống xâm lược rất ngoan cường, cuối cùng giai cấp phong kiến cũng phải nhượng bộ thực dân. Phần lớn các quốc gia phong kiến ở đây đã không tự bảo vệ nổi mình và trở thành miếng mồi của chủ nghĩa thực dân.
Trong bối cảnh của cả khu vực như thế, Triều Tiên, Việt Nam và Trung Quốc không thể đứng ngoài những biến động chính trị mà tư bản phương Tây tạo nên trong quá trình tìm kiếm thuộc địa và khu vực ảnh hưởng. Trung Quốc Về nông nghiệp: sau khi thiết lập sự thống trị lên toàn bộ Trung Quốc, thời kỳ đầu, nhà Thanh có những chính sách tích cực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Nhà Thanh thi hành chính sách xóa bỏ các thứ sưu cao thuế nặng của lúc cuối đời Minh, khuyến khích nhân dân vỡ hoang. Diện tích đất trồng lúa, trồng bông, thuốc lá và mía tăng lên rất nhiều so với thời Minh.
Nông dân trồng các thứ cây nông nghiệp, chủ yếu là để bán. Nông nghiệp được phát triển, số nhân khẩu cũng tăng lên rất nhanh, đến giữa thế kỷ XIX, toàn Trung Quốc có trên 400 triệu người, nhiều hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử trước đây. Về thủ công nghiệp và thương nghiệp: nhờ nông nghiệp phát triển nên thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng được khôi phục và phát triển. Miền nam Giang Tô vẫn là trung tâm công nghiệp dệt.
Ở Nam Kinh, riêng nghề dệt lụa cũng đã có 5 vạn khung cửi. Công trường lớn có đến năm sáu trăm khung dệt, đồng thời còn phát sợi cho các phường nhỏ dệt. Ở Tô Châu có trên một vạn khung dệt. Quảng Đông là trung tâm đồ sắt, trong trấn có hơn một trăm lò đúc nồi sắt làm việc suốt ngày thâu đêm.
Đồng thời cũng có nhiều công trường thủ công rèn sắt, làm đinh, làm kim, làm dây sắt… Mỗi công trường có từ mấy chục đến hơn 100 công nhân. Công nghiệp đào mỏ ở Vân Nam rất phát đạt. Vào thế kỷ XVIII, chỉ trong vài chục năm, sản lượng đồng hàng năm từ 80 vạn cân tăng lên đến trên 12 triệu cân. Đầu thế kỷ XIX, sản lượng bạc mỗi năm có đến 17 vạn lạng.
Quy mô vùng mỏ rất to. Mỏ lớn có đến năm sáu vạn công nhân, mỏ nhỏ cũng có trên 1 vạn [36; 208]. Việc trao đổi hàng hóa ở các nơi cũng phát đạt hơn đời Minh. Bông của Hà Nam chở đến Giang Tô và Chiết Giang để cung cấp cho ngành dệt.
Tơ của Hồ Châu chở đến Hàng Châu và Nam Kinh. Còn hàng lụa của Nam Kinh thì bán ra khắp nơi trong nước, sắt ở Liêu Ninh, Cam Túc, Vân Nam và Quảng Đông chở đến Phật Sơn để đúc nồi sắt và rèn đồ sắt. Các thứ đồ dùng bằng sắt của Chương Khưu (Sơn 11 Đông) làm ra đã bán khắp vùng hạ du Hoàng Hà và hạ du Trường Giang, cho đến Đông Bắc. Nhìn chung, thủ công nghiệp và thương nghiệp của Trung Quốc vào đầu thời kỳ thống trị của nhà Thanh đều được phát triển.
Tuy nhiên, vào cuối nhà Thanh, tức là từ thế kỷ XIX, nhiều căn bệnh trong xã hội phong kiến Trung Quốc đã bộc lộ và phát triển sâu sắc. Địa chủ bao chiếm rất nhiều ruộng đất và bóc lột nông dân rất tàn nhẫn. Nông dân phải nộp từ năm mươi cho đến tám mươi phần trăm số thu hoạch cho địa chủ, ngoài ra còn phải nộp sưu thuế cho chính phủ nữa. Nông dân dùng nông cụ thô sơ để cày cấy trên những mảnh đất nhỏ và dùng công cụ giản đơn để quay tơ dệt vải.
Quanh năm suốt tháng họ làm lụng vất vả, nhưng vẫn nghèo khổ và không đủ sức để thay đổi lối sản xuất lạc hậu ấy. Bên trong xã hội phong kiến đã có mầm mống chủ nghĩa tư bản. Ở các nơi đã có nhiều công trường thủ công nghiệp dệt tơ lụa, làm chè, luyện gang, làm đồ sứ… Nhưng nền thống trị phong kiến của nhà Thanh đã ngăn sự phát triển của các công trường thủ công nghiệp đó. Chẳng hạn như chính phủ đã đặt cơ quan ở Nam Kinh, Hàng Châu, Tô Châu để khống chế ngành dệt tơ lụa là một ngành quan trọng trong ngành thủ công nghiệp, dùng một số thủ đoạn để cướp bóc hàng tơ lụa trong dân gian.
Không những thế, chính phủ Thanh còn hạn chế gắt gao ngành tơ lụa dân gian, quy định mỗi hộ không được có trên 100 khuôn dệt, mỗi khuôn dệt phải nộp 50 lạng bạc thuế mỗi năm. Vì thế đã hạn chế ngành tơ lụa phát triển. Chính phủ Thanh áp bức nhân dân các dân tộc đã làm cho nhân dân các dân tộc đã phải đấu tranh không ngừng. Những năm 30 của thế kỷ XIX, người Anh đưa vào Trung Quốc rất nhiều thuốc phiện.
Để mở mang thị trường, bán hàng hóa và vơ vét nguyên liệu công nghiệp rẻ mạt của Trung Quốc, bọn tư bản Anh đã sẵn sàng có ý định đánh vào Trung Quốc. Cho nên sau khi nhà Thanh kiên quyết cấm thuốc phiện, thì Anh đã vịn cớ bảo hộ việc buôn bán thuốc phiện để tích cực chuẩn bị gây chiến. Sau Chiến tranh Thuốc phiện, nhân dân Trung Quốc phải chịu hai tầng áp bức của thế lực tư bản ngoại quốc và phong kiến trong nước. Xã hội Trung Quốc đã dần 12 dần biến thành xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến.
Đồng thời nhân dân Trung Quốc cũng bắt đầu cuộc đấu tranh chống xâm lược ngoại quốc và thống trị phong kiến trong nước. Nhìn chung, Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XIX, trong khi các nước phương Tây (kể cả Nhật Bản ở phương Đông) do vận dụng có kết quả nhiều thành tựu khoa học mới mẻ đã trở nên hùng mạnh thì xã hội Trung Quốc dưới nền cai trị hủ bại của triều đình Mãn Thanh hầu như vẫn dậm chân tại chỗ. Chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình đã cắt đứt mọi thông tin, mọi kích thích có lợi cho sự chuyển mình của đất nước [59; 44]. Chính vì vậy, triều đình nhà Thanh đã không đủ sức đối phó với dã tâm xâm lược của các cường quốc tư bản chủ nghĩa.
Sau vài lần thử chống lại nhưng thất bại, nhà Thanh đành phải đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, chấp nhận nhiều hiệp ước bất bình đẳng, đặt Trung Quốc vào địa vị nửa thuộc địa.