ĐẶT VẤN ĐỀ Chi Diospyros L. thuộc họ Thị (Ebenaceae) là chi lớn nhất trong họ, được phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới, đa dạng nhất là ở khu vực Đông Nam Á, có một số loại thuộc Tây Á, Nhật Bản và Đông Nam nước Mỹ [14]. Ở Việt Nam đã thống kê được 70 loài [2], trong đó có một số loài thuộc chi Diospyros L. đã được nghiên cứu trên thế giới.
Cây Hồng rừng (Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino) là một trong những cây thuộc chi Diospyros L. sinh trưởng và phát triển tự nhiên trên địa bàn Lào Cai. Với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng, tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số về cây thuốc, ngoài việc sử dụng rộng rãi các cây dược liệu quý có giá trị kinh tế như Tam thất, Đương quy, Đinh lăng, Atiso,… Hồng rừng cũng là một trong những cây được sử dụng làm thuốc trong thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Thành phần hóa học chính trong lá và quả của cây Hồng rừng gồm có flavonoid, phenolic acid, tanin, carotenoid, triterpenoid [10], [11], ngoài ra chứa đa dạng các chất dinh dưỡng như protein, chất béo và đặc biệt là vitamin C [27]. Về tác dụng sinh học bao gồm chống oxy hóa, hạ đường huyết, chống viêm, tác dụng trên tim mạch, cầm máu. Để chứng minh được trí thức dân gian sử dụng tác dụng chống viêm, hạ đường huyết của dược liệu này và bổ sung cơ sở dữ liệu về hóa học, hoạt tính sinh học in vitro cũng như nâng cao công dụng và giá trị ứng dụng thực tiễn của cây Hồng rừng, tôi tiến hành đề tài “Chiết xuất, phân lập một số hợp chất từ lá cây Hồng rừng (Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino) và đánh giá một số hoạt tính sinh học in vitro” với mục tiêu sau: 1.
Chiết xuất, phân lập và nhận dạng 2 - 3 hợp chất từ lá cây Hồng rừng. Đánh giá ảnh hưởng đến hoạt độ enzym α-glucosidase, enzym α-amylase in vitro và ảnh hưởng đến sự giải phóng NO từ tế bào RAW 24.7 của các cao phân đoạn và các hợp chất phân lập được từ lá cây Hồng rừng. Tổng quan về chi Diospyros L. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật của Armen L.
Takhtajan (2009) chi Diospyros L. có vị trí phân loại như sau [45]: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Sổ (Dillenianae) Liên bộ Đỗ quyên (Ericanae) Bộ Thị (Ebenales) Họ Thị (Ebenaceae) Chi Diospyros L. Phân bố của chi Diospyros L. là chi lớn nhất trong họ Ebenaceae, có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới (Châu Á có tới 200 loài) và một số nơi thuộc khu vực ôn đới, trong đó đa dạng nhất là khu vực Đông Nam Á, chỉ có một số loài ở Tây Á, Nhật Bản và Đông Nam nước Mỹ [45].
Trung Quốc có 60 loài nhiều nhất ở Đông Nam và Tây Nam Trung Quốc [42]. Ở Việt Nam, chi Diospyros L. trong đó có 9 loài cho gỗ có giá trị sử dụng, hai loài có quả ăn được là Hồng (D. Trong tổng số 24 loài thuộc chi Diospyros từ các vùng khác nhau có 3 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Á đó là D., D oleifera Cheng và một loài ở Châu Mỹ là D.
Hình thái thực vật của 4 loài D. có nhiều nét tương đồng về lá, hoa, quả,… Một số loài thuộc chi này rất quan trọng về mặt thương mại, hoặc cho trái cây, 2 lá hoặc gỗ [40]. Các giống trái cây ăn được là D. Hình thái thực vật của một số loài thuộc chi Diospyros L [40] (A.
Diospyros virginiana California, Mỹ; D. Diospyros oleifera Cheng; E. Diospyros kaki California, Mỹ) Hình 1. Hình thái thực vật của cây Hồng rừng [3] 3 1.
Đặc điểm thực vật của chi Dyospyros L. Cây gỗ hoặc cây bụi, rụng lá hoặc thường xanh lá. Lá mọc so le, nguyên [1]. Thỉnh thoảng có các vết mờ rải rác hoặc có các vết rỗ lớn [42].
Hoa thường đơn tính, khác gốc hoặc cùng gốc; hiếm khi lưỡng tính. Hoa đực mọc thành xim ở nách lá; nhị từ 4 đến rất nhiều, thường kết hợp thành hai vòng xoắn. Hoa cái thường đơn độc, mọc ở nách lá; nhị lớp 1-16 hoặc không có; bầu thường có 2-6. Đài hoa thường có 3-7 thùy.
Tràng hoa hình chum, hình chuông, hoặc hình ống, 3-7 thùy rụng sớm. Quả thịt, mang đài to không rụng. Thành phần hóa học của chi Dyospyros L. Nhiều loài thuộc chi Diospyros L.
đã phân lập được một số thành phần hóa học có hiệu quả cao trong điều trị bệnh. Theo nghiên cứu của U. Rao và cộng sự đã có khoảng 300 chất hữu cơ đã được phân lập từ chi Diospyros L. trong đó đa số có các thành phần sau [32]: Bảng 1.
Thành phần hóa học của một số cây thuộc chi Diospyros L Tên loài Bộ phận Thành phần hóa học TLTK - Triterpen: lupeol, betulin, acid ursolic, taraxerol. - Steroid: β-sitosterol, campesterol, stigmasterol. kaki Lá - Naphthoquinon: Plumbagin, 3-methoxy-7- [32] methyljuglon,. shinanolon, diospyrin… Flavonoid: kampferol, kampferol-3-O-α-L- rhamnopyranosid… - Triterpen: lupeol, oxyallobetulin, acid [32], D.
lotus Rễ ursolic, β-amyrin, taraxerol… [55] 4 Tên loài Bộ phận Thành phần hóa học TLTK - Steroid: β-sitosterol. - Flavonod: myricetin-3-O-α-L- rhamnopyranosid. -Triterpen: acid ursolic D. virginiana Naphthoquinon: 7-methyljuglon [32], Quả L.
- Diospyrin, isodiospyrin [38] - Steroid: β-sitosterol -Triterpen: lupeol, acid ursolic, acid oleanolic… D. melanoxylon [33] - Naphthoquinon: 7-methyljuglon, 2-methyl-5- methoxy-6-hydroxy-1,4-naphthoquinon. Hạt Triterpen: betulin, acid betulinic … [5], [32] mespiliformis - Triterpen: peregrinol, acid oleanolic glycosid - Steroid: β-sitosterol glucosid. peregrina Quả [32] -Flavonoid: leucopelargonidin-3-O-α-L- rhamnopyranosid Nhóm triterpen là nhóm phổ biến nhất được tìm thấy trong chi Diospyros L.
bao gồm các chất đã được phân lập như: peregrinol, acid ursolic, taraxerol…[32] 5 Peregrinol R1 R2 Taraxerol α –H β-OH Taraxeryl acetate: α-H β-OCOCH3 Taracerone O O R1 R2 R1 R2 Lupeol β-OH CH3 α-amyrin β-OH CH3 Betulin β-OH CH2OH Acid ursolic β-OH COOH acid betulinic β-OH COOH Acid ursolic acetat β-OCOCH3 COOH Epi-lupeol α-OH CH3 Acid ursolic palmitat β-OCOCH2 COOH Lupenon O CH3 Acid ursolic stearat β-OCO(CH2 )16CH3 COOH Betulinaldehyd β-OH CHO α-amyrenon O CH3 Epi-uvaol α-OH CH2OH Uvaol β-OH CH2OH Các hợp chất steroid được phân lập từ Diospyros L. có sáu chất đã được phát hiện [32] Chi Diospyros L. có một lượng lớn 1,4-naphthoquinon đã được nghiên cứu và chúng có thể được sử dụng làm dấu hiệu hóa học cho các nghiên cứu phân loại. 6 Plumbagin và 7- methyljuglone là các naphthoquinon phân bố rộng rãi nhất và được tìm thấy tích lũy với số lượng đáng kể trong một số loài Diospyros L.
2-methoxy-7-methyjuglon 3-methoxy-7-methyjuglon Cyclodiospyrin Neodiospyrin Các flavonoid được phân lập cho đến nay tất cả đều thuộc về phân lớp 3,5,7- trihydroxyflavon. là nguồn tiềm năng cho các chất chuyển hóa này và cho đến nay đã có flavonol glycosid và một số đã được báo cáo ức chế angiotensin chuyển đổi hoạt động enzym [32]. 3,7,3,5’-tetrahydroxy-3’-methoxy- flavanone-4’-O-α-L- rhamnopyranosid R1 R2 R3 H H H α-L-rhamnopyranosid H H β-D-xylopyranosid H H 7 1. Tác dụng sinh học của chi Diospyros L.
Các bộ phận của chi Diospyros L. thuộc họ Ebenaceae trong kinh nghiệm của người dân đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, bao gồm trị xuất huyết, tiểu không kiểm soát, mất ngủ, nấc cụt, tiêu chảy… Các hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi này như chống oxy hóa, chống viêm, giảm đau, hạ sốt, trị đái tháo đường, kháng khuẩn, tẩy giun sán, hạ huyết áp. đã được chứng minh bằng các phương pháp in vitro, in vivo và các thử nghiệm lâm sàng [40]. Trong lá Hồng (Diospyros kaki L.) có hai thành phần chính là flavonoid và triterpenoid [10], [11].
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về tác dụng sinh học dựa trên hai thành phần hóa học từ lá của cây, trong đó có một số tác dụng sinh học nổi bật như sau 1. Tác dụng giảm đau, chống viêm Một nghiên cứu được thực hiện năm 2013 về tác dụng và cơ chế chống viêm của cắn chiết nước lá của loài Diospyros kaki L. ở liều 100mg/ml có tác dụng ức chế giải phóng histamin và β-hexosaminidase từ tế bào mast bằng cách điều chỉnh nồng độ cAMP và calci nội bào. Tác dụng ức chế của AEDK đối với phản ứng dị ứng và giải phóng histamin được phát hiện là tương tự như tác dụng của dinatri cromoglycate, một loại thuốc chống dị ứng đã biết [25].
Trongsakul với cộng sự đã chứng minh cao chiết n-hexan của rễ từ loài Diospyros variegata Kruz ở liều 150mg/kg cho thấy tác dụng chống viêm trên mô hình gây viêm bằng ethyl phenylpropiolat (EPP) và gây phù nề trên chuột nhắt trắng do acid arachidonic (AA) kết quả cho thấy có tác dụng chống viêm đến 93% và chống phù nền đến 91% [48]. Adzu với cộng sự đã chứng minh cao chiết methanol từ lá của loài Diospyros mespiliformis Hochst (50mg/kg và 100mg/kg) có tác dụng chống viêm có ý nghĩa (p <0,05) trên mô hình gây viêm trên chuột nhắt trắng [7]. Năm 2014, Uddin với cộng sự đã chứng minh cao chiết chloroform, diospyrin, 8-hydroxyisodiospyrin của rễ Diospyros lotus L. có tác dụng chống viêm rõ rệt.
Chiết xuất chloroform (77,43%), diospyrin (80,54%) và 8-hydroxyisodiospyrin (75,87%) bảo vệ phù chân carrageenan sau giờ thứ 3 [50]. 8 Năm 2016, Cho với cộng sự đã phân lập hợp chất myricetin từ lá loài Diospyros lotus L. ở các liều 25μM, 50μM, và 100μM đều chứng minh là có tác dụng ức chế sản sinh chất trung gian gây viêm thông qua việc ức chế sự hoạt hóa NF-κB và STAT1 và cảm ứng biểu hiện HO-1 qua trung gian Nrf2 trong các đại thực bào RAW264.7 được LPS kích thích [13]. Năm 2006, Lee với cộng sự đã chứng minh cao chiết methanol của lá D.
DC có tác dụng ngăn chặn đáng kể số lượng tế bào viêm do ovalbumin gây ra khi dùng đường uống với liều 20–40 mg/kg dịch chiết trong 3 ngày. Tác dụng chống viêm được cho là do sự giảm IL-4, IL5 và sự ngăn chặn hoạt động của chất nền metalloproteinase-9 [29]. Cao chiết ethanol của lá D. kaki trong nghiên cứu của Kim và cộng sự đã chứng minh ở liều 200mg/kg khi cho chuột cống nhắt trắng uống trong 14 ngày, cho thấy cao chiết ethanol có tác dụng ức chế phản ứng viêm.
Dịch chiết thể hiện tác dụng chống viêm bằng cách giảm IL-1β, IL-6, TNF-α, và MCP-1 [26]. Tác dụng kháng khuẩn Một số nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của chi Diospyros L. như sau: MIC (nồng độ ức chế tối thiểu) và MBC (nồng dộ diệt khuẩn tối thiểu) của lá hồng D. đã được xác định là 0,313g/ml và 0,625g/ml kháng lại các vi khuẩn: Escherichia coli, Staphylococus aureus, Fluorescence pseudomonas, Bacillus subtilis, Bacillus cereus, Proteus vulgaris và tỷ lệ kháng khuẩn trên 90%.
Cao chiết ethanol và ethyl acetat từ lá hồng (Diospyros kaki L.) đã có hiệu quả đáng kể chống lại 6 loại vi khuẩn trên. Cao chiết nước có hiệu quả với nấm hơn vi khuẩn. Cao chiết n-butanol có hiệu quả khác nhau chống lại vi khuẩn, nhưng không có tác dụng với nấm.