Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sau công cuộc Đổi mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng mở cửa và đẩy mạnh xuất khẩu nhằm thay thế nhập khẩu. Trong cơ cấu hàng hóa ngoại thương thời kỳ này, ngành thủ công mỹ nghệ đóng vai trò quan trọng nhờ các đặc tính thực tiễn: giải quyết việc làm cho lượng lớn lao động thủ công trong thời kỳ nông nhàn, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu thấp, không phụ thuộc vào công nghệ phức tạp và tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn có. Tuy nhiên, sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường cũng đặt các doanh nghiệp xuất khẩu trước nhiều áp lực, bao gồm thủ tục hành chính, chính sách thuế, hải quan còn bất cập, cùng sự cạnh tranh quyết liệt từ các quốc gia trong khu vực có điều kiện tương đồng như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan hay Philippines.
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủ công Mỹ nghệ (Artexport) là một trong những đơn vị nòng cốt của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam với lịch sử hoạt động trên 40 năm. Trước bối cảnh chuyển đổi mô hình sở hữu sang công ty cổ phần và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, công ty đối mặt với yêu cầu phải tái cấu trúc toàn diện hoạt động kinh doanh xuất khẩu, từ bỏ phương thức giao dịch thụ động theo hiệp định để chủ động xây dựng chiến lược thích ứng với từng thị trường mục tiêu. Khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích toàn diện thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác xây dựng chiến lược xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Artexport trong giai đoạn 2000 – 2005.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong quy trình hoạch định, thực thi chiến lược sản phẩm - thị trường của công ty.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị đối với Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và thực hiện chiến lược xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong điều kiện hội nhập kinh tế.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng xây dựng chiến lược xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủ công Mỹ nghệ (Artexport).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các phòng ban, đơn vị trực thuộc, cơ sở vệ tinh và mạng lưới phân phối của Artexport tại thị trường nội địa cùng các thị trường xuất nhập khẩu quốc tế (Châu Á – Thái Bình Dương, EU, Bắc Mỹ).
- Thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2000 – 2005, kết hợp đối chiếu chuỗi số liệu thứ cấp từ năm 1964 đến năm 1998 để làm rõ quá trình chuyển đổi mô hình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng lý luận về quản trị chiến lược và kinh tế ngoại thương:
- Khung lý thuyết và khái niệm:
- Khái niệm chiến lược kinh doanh theo quan điểm của Alfred Chandler (Đại học Harvard) về việc xác định mục tiêu dài hạn và phân bổ nguồn lực; quan điểm của William F. Glueck về tính thống nhất, toàn diện và phối hợp của kế hoạch chiến lược; cùng hệ thống lý thuyết quản trị kinh doanh xuất khẩu của tác giả Nguyễn Khoa Khôi.
- Khái niệm về xuất khẩu hàng hóa và chiến lược kinh doanh xuất khẩu (định hướng huy động nguồn lực trong nước để tiếp cận, phân phối và gia tăng thị phần tại thị trường nước ngoài).
- Mô hình quy trình 5 bước xây dựng chiến lược xuất khẩu: (1) Xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường; (2) Phân tích ma trận SWOT (kết hợp các nhóm chiến lược SO, WO, ST, WT); (3) Xác định cặp sản phẩm – thị trường tối ưu; (4) Lập và thực thi các chính sách kinh doanh (sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến); (5) Theo dõi, kiểm tra và đánh giá.
- Cơ sở pháp lý và thể chế:
- Hệ thống các quyết định thành lập và chuyển đổi mô hình doanh nghiệp: Quyết định số 617/BNgT-TCCB (23/12/1964), Quyết định số 334/TM-TCCB (31/03/1993), Quyết định số 3196/QĐ-UBTC (19/12/1992), Quyết định số 3169/QĐ-UBTC (27/09/1996), và Quyết định số 1424/QĐ-BTM ngày 04/10/2005 của Bộ Thương mại về việc cổ phần hóa Artexport.
- Các cam kết và thỏa thuận thương mại quốc tế: Hiệp định Đối xử tối huệ quốc (MFN) với 72 quốc gia, quan hệ thương mại với 57 nước, Hiệp định Khung Việt Nam – EU (1995), Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA, ký ngày 13/07/2000), cùng tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ASEAN và ASEM.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Các phương pháp phân tích thực nghiệm: phương pháp thống kê mô tả, phân tích kinh tế vi mô, phân tích chuỗi thời gian đối với các chỉ tiêu tài chính - lao động, phương pháp so sánh tuyệt đối - tương đối, phương pháp phân tích chính sách và công cụ ma trận SWOT.
- Nguồn dữ liệu: Báo cáo tài chính nội bộ, bảng cân đối kế toán, báo cáo tổng kết tình hình xuất nhập khẩu, cơ cấu lao động và quỹ lương định kỳ của Artexport giai đoạn 1991 – 2004 và số liệu thực hiện 6 tháng đầu năm 2005.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu của Artexport
Chương này trình bày toàn diện lịch sử phát triển, mô hình tổ chức, nguồn lực sản xuất và bức tranh tài chính của Artexport qua hai thời kỳ lớn:
- Lịch sử hình thành và các giai đoạn phát triển:
- Thời kỳ trước 1986: Tiền thân là 2 phòng thủ công mỹ nghệ thuộc Tổng công ty XNK Tạp phẩm (TOCONTAP), được tách ra thành lập công ty độc lập ngày 23/12/1964 với quy mô ban đầu dưới 50 cán bộ nhân viên, gồm 4 phòng nghiệp vụ: Mỹ nghệ, Sơn mài, Mây tre đan, Thêu thảm - Chiếu cói. Hoạt động thời kỳ này thuần túy theo chỉ tiêu Nghị định thư với các nước XHCN (Liên Xô, Đông Âu). Kim ngạch XNK bình quân giai đoạn 1966 – 1970 đạt trên 6 triệu Rúp/USD/năm, tăng từ 16,9 triệu Rúp/USD (1975) lên 98,6 triệu Rúp/USD (1989).
- Thời kỳ từ 1986 đến 2005: Ngày 17/11/1987, sáp nhập 3 đơn vị (Mỹ nghệ XK, Thêu ren XK, Gia công dệt XK) thành Công ty Mỹ nghệ xuất khẩu Hà Nội. Sau cú sốc sụp đổ thị trường Đông Âu khiến kim ngạch sụt giảm từ đỉnh 102,4 triệu Rúp/USD (1989) xuống 61,8 triệu (1990) và 9,8 triệu USD, công ty chủ động chuyển dịch cơ cấu thị trường sang các nước tư bản (khu vực 2) như Nhật Bản, Hồng Kông, Pháp. Ngày 04/10/2005, công ty chính thức cổ phần hóa với vốn điều lệ 32 tỷ đồng theo Giấy CNĐKKD số 0103006536.
| Chỉ tiêu |
Năm 1994 |
Năm 1995 |
Năm 1996 |
Năm 1997 |
Năm 1998 |
| Tổng kim ngạch XNK (triệu USD) |
15,05 |
19,52 |
25,79 |
28,55 |
41,02 |
| Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) |
10,47 |
10,56 |
7,50 |
10,72 |
12,09 |
| Tỷ trọng XK / Tổng XNK (%) |
69,58 |
54,13 |
29,05 |
37,54 |
31,46 |
- Cơ cấu tổ chức và nguồn lực doanh nghiệp:
- Bộ máy quản lý gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Ban Tổng giám đốc, 3 phòng ban chức năng (Tài chính Kế hoạch, Tổ chức Hành chính, Ban Xúc tiến Thương mại) và 10 phòng kinh doanh trực tiếp. Ngoài ra, công ty duy trì các đơn vị trực thuộc: Xưởng thêu (Láng Hạ, Bạch Mai), Xưởng gỗ (Thanh Lâm - Thanh Trì), Xí nghiệp gốm Bát Tràng, Cửa hàng 37 Hàng Khay cùng các chi nhánh tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.
- Tài sản cố định: Tổng nguyên giá đạt 23.342 triệu đồng, trong đó máy móc thiết bị chiếm 20.053 triệu đồng, thiết bị dụng cụ quản lý 1.879 triệu đồng, nhà cửa kiến trúc 579 triệu đồng, tài sản vô hình 504 triệu đồng và phương tiện vận tải 327 triệu đồng.
- Lao động và tiền lương: Artexport thực hiện tinh giản lao động gián tiếp, giảm tổng số nhân sự từ 515 người (1991) xuống 381 người (2000) và 210 người (2004). Năm 2004, tỷ lệ nhân sự có trình độ đại học và trên đại học chiếm 61,90% (130 người), chuyên tu/tại chức chiếm 7,62% (16 người), sơ cấp chiếm 30,48% (64 người). Năng suất lao động bình quân tăng từ 511 triệu đồng/người (2001) lên 2.375 triệu đồng/người (2004), đơn giá tiền lương tăng từ 15,6 triệu đồng lên 30 triệu đồng/người/năm.
| Chỉ tiêu |
Năm 2001 |
Năm 2003 |
Năm 2004 |
Chênh lệch 2003/2001 (%) |
Chênh lệch 2004/2003 (%) |
| Doanh thu bán hàng (triệu VNĐ) |
187.543 |
356.412 |
498.754 |
+90,04 |
+39,90 |
| Số lao động bình quân (người) |
367 |
375 |
210 |
+2,20 |
-44,00 |
| Năng suất lao động (triệu VNĐ/người) |
511,0 |
950,4 |
2.375,0 |
+86,00 |
+149,90 |
| Quỹ tiền lương (triệu VNĐ) |
5.725 |
8.325 |
6.300 |
+45,40 |
-24,30 |
| Đơn giá tiền lương (triệu VNĐ/người/năm) |
15,6 |
22,2 |
30,0 |
+42,30 |
+35,10 |
- Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 2000 – 2005:
- Kim ngạch xuất khẩu: Tăng từ 8,434 triệu USD (2001) lên 10,628 triệu USD (2002), đạt đỉnh 11,145 triệu USD (2003), giảm xuống 10,160 triệu USD (2004, -5,1%) và đạt 5,947 triệu USD trong 6 tháng đầu năm 2005. Cơ cấu xuất khẩu năm 2004 gồm: sản phẩm gỗ sơn mài (2.919.087 USD, 27%), gốm sứ đất nung (1,587 triệu USD, 12,7%), cói mây tre đan (895.230 USD, 8,4%), tôn sắt mỹ nghệ (1,940 triệu USD, 12,4%), nông sản rau quả (3,603 triệu USD, 3,6%) và các mặt hàng khác. Trong 6 tháng đầu năm 2005, hàng sơn mài mỹ nghệ chiếm tới 46,96% tổng kim ngạch xuất khẩu.
- Hoạt động nhập khẩu: Chiếm tỷ trọng áp đảo so với xuất khẩu. Năm 2004, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 23.483.791 USD (gấp 2,3 lần kim ngạch xuất khẩu), trong đó sắt thép chiếm 50,24% (11.797.556 USD), hàng tiêu dùng chiếm 9,85% (2,316 triệu USD), phần còn lại là ô tô, máy móc đã qua sử dụng và nguyên phụ liệu dệt may. 6 tháng đầu năm 2005, nhập khẩu đạt 13,819 triệu USD (sắt thép chiếm 38,30%, ô tô chiếm 13,16%).
- Nghĩa vụ ngân sách: Giá trị nộp ngân sách Nhà nước duy trì mức cao: năm 2000 đạt 310.500 triệu đồng; năm 2001: 115.454 triệu đồng; năm 2002: 316.000 triệu đồng; năm 2003: 318.000 triệu đồng và năm 2004 đạt 319.300 triệu đồng.
Chương 2: Thực trạng xây dựng chiến lược xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Artexport
Chương này đi sâu đánh giá vị thế thị trường và các thành tố trong chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp:
-
Phân tích vị trí cạnh tranh trên thị trường:
Artexport đã mất vị thế độc quyền nhà nước và phải cạnh tranh trực tiếp với 4 nhóm chủ thể chính:
- Doanh nghiệp liên doanh: Artex - Bát Tràng (sứ), Artex - Duy Hà (thêu ren), Thảm len Đống Đa liên doanh May Chiến Thắng... tận dụng được vốn, công nghệ và kênh phân phối ngoại.
- Công ty TNHH và Công ty Cổ phần tư nhân: Như Tiến Đông, Văn Minh... có bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt, đàm phán ký kết hợp đồng trực tiếp không qua trung gian.
- Khối làng nghề, hợp tác xã, hộ gia đình: Tận dụng lao động nông nhàn, chi phí thấp, nguồn nguyên liệu tại chỗ, đóng vai trò là nhà cung ứng vệ tinh nhưng cũng cạnh tranh bán sản phẩm trực tiếp.
- Doanh nghiệp Nhà nước truyền thống: Haprosimex, Barotex, Artexco, Unimex...
-
Phân tích ma trận SWOT tại Artexport:
- Điểm mạnh (S): Bề dày hơn 40 năm kinh nghiệm; mạng lưới vệ tinh sản xuất rộng khắp tại các làng nghề truyền thống (gốm Bát Tràng, Đồng Nai; sơn mài Sông Bé; đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn; thêu Huế; cói mây tre Đan Phượng, Bến Tre, Long An); đội ngũ nhân lực có trình độ đại học cao (61,90%); thương hiệu Artexport có uy tín; kênh tiêu thụ hỗ trợ như Công ty Vietimex tại Hồng Kông.
- Điểm yếu (W): Cơ cấu kinh doanh mất cân đối khi nhập khẩu lấn át xuất khẩu (nhập nhiều hàng ngoài ngành); hoạt động marketing thụ động, thiếu nhân sự xúc tiến chuyên trách; sản phẩm xuất khẩu chủ yếu qua trung gian, đại lý nước ngoài nên khó kiểm soát giá bán lẻ và thị hiếu người dùng cuối; quy chế khoán tạo áp lực cạnh tranh nội bộ giữa 10 phòng kinh doanh.
- Cơ hội (O): Môi trường thương mại mở rộng thông qua các hiệp định BTA, MFN, đàm phán WTO; nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thủ công mỹ nghệ trang trí nội thất tại EU, Bắc Mỹ, Nhật Bản tăng cao; sự phát triển của thương mại điện tử (E-commerce) giúp mở rộng kênh tiếp thị trực tuyến qua website công ty.
- Thách thức (T): Cạnh tranh quyết liệt về giá và mẫu mã từ các quốc gia xuất khẩu lớn (đặc biệt là Trung Quốc); rào cản tiêu chuẩn kỹ thuật và kiểm dịch khắt khe từ thị trường nhập khẩu; biến động chi phí nguyên phụ liệu đầu vào.
-
Thực trạng chính sách xuất khẩu và phương thức kinh doanh:
- Chính sách sản phẩm và giá: Tập trung vào các dòng hàng chủ lực (sơn mài, gốm sứ, mây tre đan). Chính sách giá được định theo từng thương vụ dựa trên biểu chi phí gia công và giá cạnh tranh của các nhà buôn khu vực.
- Phương thức kinh doanh: Áp dụng linh hoạt xuất khẩu trực tiếp, ủy thác xuất khẩu, hàng đổi hàng, gia công tái xuất; phương thức thanh toán mở rộng từ L/C truyền thống sang D/A, D/P, thanh toán điện chuyển tiền.
- Tồn tại trong thực hiện: Hệ thống cửa hàng trưng bày (như 37 Hàng Khay) chưa phát huy vai trò xúc tiến thương mại; bao bì nhãn mác chưa được chuẩn hóa đồng bộ; công tác nghiên cứu thị trường còn phân tán giữa các phòng ban.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng chiến lược xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Artexport
Tác giả đề xuất định hướng phát triển và hệ thống giải pháp thực thi cho giai đoạn tiếp theo:
-
Phương hướng phát triển đến năm 2010:
- Xác định thị trường trọng điểm là Châu Á – Thái Bình Dương, Tây Âu (EU) và Bắc Mỹ (Hoa Kỳ).
- Duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, nâng cao tỷ trọng các sản phẩm có hàm lượng mỹ thuật và giá trị gia tăng cao (đặc biệt là sơn mài, gốm sứ, thêu ren).
-
Các đề xuất chiến lược chuyên biệt:
- Chiến lược khách hàng: Phân loại nhóm khách hàng truyền thống và khách hàng tiềm năng, thiết lập cơ chế chăm sóc và điều khoản thanh toán ưu đãi đối với các nhà nhập khẩu lớn.
- Chiến lược thị trường và mặt hàng: Đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng tôn sắt mỹ nghệ và sản phẩm gỗ cao cấp; đa dạng hóa thiết kế kết hợp giữa chất liệu gốm - mây tre - gỗ.
- Chiến lược Marketing và Thương mại điện tử: Nâng cấp hệ thống website thương mại điện tử thành cổng giao dịch B2B, cung cấp đầy đủ thông số kỹ thuật, hình ảnh và chứng chỉ chất lượng sản phẩm; trực tiếp tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế chuyên ngành thủ công mỹ nghệ.
- Chiến lược tài chính và nhân lực: Cơ cấu lại nguồn vốn sau cổ phần hóa, ưu tiên vốn lưu động cho các hợp đồng xuất khẩu lớn; tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ về kỹ năng đàm phán thương mại quốc tế, ngoại ngữ và thiết kế mỹ thuật công nghiệp cho cán bộ kinh doanh.
-
Kiến nghị giải pháp thực thi:
- Đối với doanh nghiệp: Tổ chức lại 10 phòng kinh doanh XNK nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh nội bộ; siết chặt quy trình kiểm định chất lượng tại các xưởng sản xuất và cơ sở vệ tinh; giảm dần tỷ trọng nhập khẩu các mặt hàng không thuộc ngành nghề cốt lõi (sắt thép, ô tô cũ) để tập trung vốn cho sản xuất xuất khẩu.
- Đối với Nhà nước và Bộ Thương mại: Đơn giản hóa thủ tục hải quan và hoàn thuế giá trị gia tăng; thiết lập quỹ hỗ trợ xúc tiến thương mại quốc gia cho ngành thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các dự án quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung và đào tạo nghệ nhân tại các làng nghề truyền thống.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu thực nghiệm:
- Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa chi tiết toàn bộ chuỗi số liệu tài chính, nhân sự và cơ cấu xuất nhập khẩu của Artexport qua các giai đoạn 1964 – 1989, 1994 – 1998, 2000 – 2004 và 6 tháng đầu năm 2005.
- Chỉ ra sự chuyển biến tích cực trong hiệu quả sử dụng lao động sau cổ phần hóa: năng suất lao động năm 2004 tăng 149,9% so với năm 2003 (đạt 2.375 triệu đồng/người), đơn giá tiền lương tăng 35,1% (đạt 30 triệu đồng/người/năm), trong khi tỷ suất chi phí tiền lương trên doanh thu giảm từ 3,05% (2001) xuống 1,26% (2004).
- Phân tích rõ nét sự mất cân đối cơ cấu khi kim ngạch nhập khẩu năm 2004 (23,48 triệu USD) vượt trội so với kim ngạch xuất khẩu (10,16 triệu USD), trong đó mặt hàng sắt thép nhập khẩu chiếm tỷ trọng chi phối 50,24%.
- Đóng góp của đề tài:
- Đặt mô hình lý thuyết quản trị chiến lược (đặc biệt là ma trận SWOT và quy trình hoạch định 5 bước) vào phân tích một doanh nghiệp đầu ngành thủ công mỹ nghệ trong thời điểm chuyển đổi cơ chế sở hữu (cổ phần hóa năm 2005).
- Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp Artexport điều chỉnh cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, định vị lại vai trò của các phòng kinh doanh và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao sức cạnh tranh trước ngưỡng cửa Việt Nam gia nhập WTO.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Dữ liệu nghiên cứu của năm 2005 mới chỉ thu thập được trong 6 tháng đầu năm, chưa phản ánh trọn vẹn kết quả tài chính của cả năm tài chính sau khi công ty hoàn tất thủ tục cổ phần hóa (tháng 10/2005).
- Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phân tích số liệu thứ cấp từ báo cáo nội bộ của doanh nghiệp, chưa thực hiện các cuộc điều tra khảo sát định lượng diện rộng đối với người tiêu dùng cuối cùng tại các thị trường nhập khẩu mục tiêu (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá tác động thực tế của việc cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO đối với chiến lược xuất khẩu của Artexport.
- Nghiên cứu chuyên sâu về mô hình liên kết chuỗi cung ứng bền vững giữa doanh nghiệp xuất khẩu với hệ thống làng nghề truyền thống và vùng nguyên liệu trong nước.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Thương mại quốc tế và Quản trị kinh doanh.
- Các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng truyền thống đang tìm kiếm tài liệu tham khảo về tái cấu trúc hoạt động ngoại thương.
- Nội dung giá trị:
- Phương pháp phân tích mối quan hệ giữa biến động quỹ lương, số lượng lao động và năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại (Chương 1).
- Ma trận SWOT và hệ thống phân tích đối thủ cạnh tranh ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam giai đoạn đầu những năm 2000 (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
-
Quá trình chuyển đổi mô hình sở hữu và quy mô vốn điều lệ của Artexport được văn bản ghi nhận như thế nào?
Artexport được thành lập ngày 23/12/1964 từ TOCONTAP theo Quyết định số 617/BNgT-TCCB. Ngày 04/10/2005, Bộ Thương mại ban hành Quyết định số 1424/QĐ-BTM chuyển công ty thành Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủ công Mỹ nghệ với vốn điều lệ đăng ký là 32 tỷ đồng theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 0103006536 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội cấp.
-
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Artexport năm 2004 và 6 tháng đầu năm 2005 có điểm gì đáng chú ý?
Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,160 triệu USD, trong đó sản phẩm gỗ sơn mài chiếm 27% (2.919.087 USD), gốm sứ đất nung chiếm 12,7% (1,587 triệu USD), tôn sắt mỹ nghệ chiếm 12,4% (1,940 triệu USD), cói mây tre đan chiếm 8,4% (895.230 USD). Trong 6 tháng đầu năm 2005, tỷ trọng nhóm hàng sơn mài mỹ nghệ tăng mạnh, chiếm 46,96% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn công ty (đạt 5,947 triệu USD).
-
Nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu của Artexport trong năm 2004 là gì?
Kim ngạch xuất khẩu năm 2004 giảm 5,1% so với năm 2003 (từ 11,145 triệu USD xuống 10,160 triệu USD). Văn bản chỉ rõ hai nguyên nhân: sự cạnh tranh gay gắt từ hàng thủ công mỹ nghệ của Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản và các nước tái xuất (Đài Loan, Hồng Kông); cùng quá trình tái cấu trúc tổ chức bộ máy, giải thể phòng thị trường để phân quyền tự chủ tìm kiếm khách hàng về 10 phòng kinh doanh riêng lẻ.
-
Tại sao tác giả đánh giá hoạt động nhập khẩu của Artexport giai đoạn 2004 – 2005 còn tồn tại bất cập?
Mặc dù nhập khẩu hỗ trợ nguồn thu cho công ty, nhưng quy mô nhập khẩu năm 2004 lên tới 23,483 triệu USD (gấp 2,3 lần xuất khẩu), trong đó mặt hàng sắt thép chiếm tới 50,24% (11,797 triệu USD) và hàng tiêu dùng, ô tô đã qua sử dụng chiếm tỷ trọng lớn. Việc nhập khẩu quá nhiều mặt hàng ngoài ngành khiến nguồn vốn bị phân tán, chưa tập trung tối đa cho việc phát triển và hỗ trợ ngành hàng thủ công mỹ nghệ cốt lõi.
-
Cơ cấu lao động và chỉ số tiền lương của Artexport thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2001 – 2004?
Công ty thực hiện tinh giản biên chế gián tiếp, giảm lao động từ 367 người (2001) xuống 210 người (2004), nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học lên 61,90%. Năng suất lao động tăng từ 511 triệu đồng/người (2001) lên 2.375 triệu đồng/người (2004). Nhờ tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn tốc độ tăng đơn giá tiền lương (35,1%), công ty đã tiết kiệm được chi phí tiền lương và hạ tỷ suất phí tiền lương trên doanh thu từ 3,05% xuống 1,26%.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Phương Thanh đã phản ánh toàn diện thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác hoạch định chiến lược xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủ công Mỹ nghệ (Artexport) trong giai đoạn bản lề 2000 – 2005. Thông qua hệ thống số liệu tài chính chi tiết và mô hình phân tích SWOT, công trình đã chỉ rõ những ưu thế về bề dày truyền thống, nguồn nhân lực, mạng lưới làng nghề vệ tinh, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn về cơ cấu xuất nhập khẩu mất cân đối và hạn chế trong công tác tiếp thị quốc tế. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng mang tính đồng bộ, cung cấp cơ sở tham khảo thực tiễn có giá trị cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngoại thương Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu.