ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization, WHO), sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ giới hạn ở tình trạng không bệnh, tật [13] Theo đ , ta c thể thấy tinh thần chính là một trong ba thành tố quan trọng tạo nên một sức khỏe toàn diện cho mỗi cá nhân. Có sức khỏe thì mới tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội Trong đ , ngƣời lao động là lực lƣợng làm ra của cải và vật chất quan trọng nhất trong xã hội chúng ta. Việc căng thẳng trong quá trình làm việc kéo dài có thể gây nên những hậu quả xấu cho sức khỏe ngƣời lao động nhƣ nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn vận mạch, bệnh tim mạch, rối loạn giấc ngủ, suy giảm năng suất lao động, giảm chất lƣợng công việc và các mối quan hệ gia đình, xã hội.Căng thẳng li n quan đến công việc là phản ứng mà mọi ngƣời có thể có khi phải đối mặt với những yêu cầu và áp lực công việc không phù hợp với kiến thức và thách thức khả năng đối phó của họ. Áp lực tại nơi làm việc là điều khó tránh khỏi do yêu cầu của môi trƣờng làm việc hiện đại và đôi khi p lực lại chính là động lực cho họ học hỏi, làm việc hiệu quả.
Tuy nhiên, khi áp lực trở nên quá lớn, vƣợt quá tầm kiểm soát của cá nhân thì sẽ dẫn đến căng thẳng, ảnh hƣởng đến sức khỏe và hiệu quả công việc. Thông tin từ Viện Quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp (The National Institute for Occupational Safety and Health, NIOSH) sau cuộc khảo s t năm 2007 thì c tới 40% ngƣời lao động đƣợc hỏi cho biết stress nghề nghiệp chính là nguyên nhân khiến họ đến bệnh viện khám [53] Cũng theo thống kê của WHO khẳng định stress nghề nghiệp chính là một trong những yếu tố đe dọa sức khỏe hàng đầu của thế kỷ XXI [58] Nhƣ vậy, có thể thấy stress nghề nghiệp cũng nhƣ sức khoẻ tâm thần của ngƣời lao động chính là một trong những thách thức mang tính chất toàn cầu, đòi hỏi các Quốc gia cần quan tâm. Thế giới cũng nhƣ Việt Nam hiện nay đối mặt với quá nhiều những thách thức mang tính chất sống còn nhƣ dịch bệnh Covid-19, kinh tế đình trệ, thi n tai lũ lụt trầm trọng Chúng ta đang chứng kiến cảnh hàng nghìn lao động bị cho thôi việc khi công ty, xí nghiệp mất hợp đồng hoặc giảm đơn đặt hàng, gây ra những ảnh. hƣởng nặng nề.
Việc duy trì một công việc, đảm bảo kinh tế gia đình, học tập của con cái chính là vấn đề nan giải có thể gây ra stress cho ngƣời lao động. Căng thẳng nghề nghiệp có thể gặp ở mọi ngƣời, mọi ngành nghề khác nhau. Viễn thông Việt Nam đã và đang ph t triển hết sức mạnh mẽ, nhiều công nghệ di động mới đƣợc đƣa vào, mạng lƣới phủ s ng đƣợc triển khai mọi vùng miền, chất lƣợng dịch vụ không ngừng nâng cao Để c đƣợc thành quả nhƣ vậy, không thể không n i đến Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, với sự nỗ lực không ngừng đãkhẳng định thƣơng hiệu, là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông hàng đầu trong nƣớc, vƣơnra quốc tế với hơn 10 nhà mạng hoạt động ngoài thị trƣờng Việt Nam. Với giá trị cốt lõi thích ứng nhanh là sức cạnh tranh và sáng tạo là sức sống, hệ thống vận hành của Viettel luôn luôn có sự đổi mới cơ chế - cách thức hoạt động nhằm đ p ứng với thay đổi của xã hội và thị trƣờng.Chỉ trong vòng 15 năm, Viettel đã c doanh thu từ 1.000 tỷ đồng l n hơn 200 000 tỷ đồng, đủ thấy sự phát triển chóng mặt của Tập đoàn Với đặc thù ngành nghề dịch vụ, hoạt động đa lĩnh vực, từ viễn thông dân sự, viễn thông quân sự, vận chuyển hàng hoá.Viettel có lƣợng nhân viên hùng hậu nhƣ kinh doanh, chăm s c kh ch hàng, kỹ thuật, nghiên cứu phát triển hạ tầng công nghệ cao.phục vụ nhu cầu ngày càng cao và khó tính của khách hàng.
Với sự cạnh tranh khốc liệt từ đối thủ Mobifone, VNPT hay Vietnamobile.và cả sự đào thải nội bộ, nhân viên Viettel luôn trong tâm thế thích ứng với những yêu cầu mới Điều đ đồng nghĩa rằng họ có thể gặp phải tình trạng căng thẳng trong công việc. Trƣớc đây dù c nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài tƣơng tự nhƣng chủ yếu tr n đối tƣợng học sinh, sinh viên, giáo viên và chỉ có một vài nghiên cứu trên nhân viên công ty, doanh nghiệp dệt may, nhiệt điện còn lĩnh vực viễn thông có khá ít nghiên cứu về vấn đề này Do đ , tôi tiến hành thực hiện đề tài “Stress và chiến lƣợc ứng phó với stress của nhân viên Viettel thành phố Hồ Chí Minh”. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: Tỉ lệ nhân vi n Viettel TP HCM c tình trạng stress trong công việc là bao nhiêu? Nhân viên Viettel TP. HCM c khuynh hƣớng p dụng c c chiến lƣợc ứng phó nào khi gặp stress? C hay không mối li n quan giữa mức độ stress với việc p dụng c c chiến lƣợc ứng ph và c c yếu tố công việc của nhân vi n Viettel? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Mục tiêu tổng quát: X c định tỉ lệ stress nghề nghiệp, chiến lƣợc ứng ph với stress nghề nghiệp của nhân vi n Viettel TP HCM năm 2021 và c c yếu tố li n quan Mục tiêu cụ thể: 1.
Chuẩn hoá bộ câu hỏi căng thẳng nghề nghiệp và các yếu tố li n quan đến công việc. X c định tỉ lệ và mức độ stress nghề nghiệp của nhân viên Viettel TP HCM năm 2021 3. X c định khuynh hƣớng nhân viên Viettel TP.HCM p dụng c c chiến lƣợc ứng ph khi gặp stress nghề nghiệp năm 2021 4. X c định mối liên quan giữa việc p dụng c c chiến lƣợc ứng phó với stress nghề nghiệp và mức độ stress nghề nghiệp của nhân viên Viettel TP.
X c định mối liên quan giữa các yếu tố trong công việc, đặc tính mẫu với mức độ stress nghề nghiệp của nhân vi n Viettel TP HCM năm 2021. DÀN Ý NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH MẪU CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Giới tính Mối quan hệ công việc Tuổi Hỗ trợ trong công việc Tình trạng hôn nhân Nhu cầu trong công Trình độ học vấn việc Thâm niên công tác Kiểm soát công việc Bộ phận công tác Thay đổi nơi làm việc Thu nhập hàng tháng Môi trƣờng làm việc Mâu thuẫn trong vai trò STRESS ỨNG PHÓ STRESS. Chƣơng 1 TỔNG QUAN Y VĂN 1. Tổng quan về stress 1.
Khái niệm stress Trƣớc thế kỉ XV, thuật ngữ stress đƣợc dùng trong vật lý học để nói về một sức ép hay sức căng vật lý mà một vật nào đ phải chịu đựng Đầu thế kỉ XX, stress mới đƣợc sử dụng để đề cập đến sự căng thẳng thần kinh trong tâm lý học. Vào cuối thế kỉ XX, stress lúc này mới là đối tƣợng nghiên cứu của các nhà khoa học trong lĩnh vực sinh lý học, xã hội học và tâm lý học với nhiều định nghĩa kh c nhau[32]. Trong đ , Lazarus (1999) cho rằng stress là trạng thái hay cảm xúc mà cá nhân trải nghiệm khi họ nghĩ c c y u cầu và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vƣợt quá nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động đƣợc. Cho đến nay, đây đƣợc coi là định nghĩa phổ biến nhất về stress vì stress không chỉ trú ngụ trong sự kiện gây căng thẳng hay đ p ứng của cá nhân mà ở cả trong hai yếu tố này, đặc biệt là trong nhận thức.
Stress chỉ xảy ra khi cá nhân nhận định sự kiện có tính thách thức, có hại, đe dọa sức khỏe tâm – sinh lý và không đủ phƣơng tiện để ứng phó. Tóm lại, stress là một khái niệm mang tính hệ thống, li n quan đến nhiều yếu tố và quá trình, trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Vì thế, stress là một phản ứng sinh học – xã hội – tâm lý đƣợc cá nhân triển khai nhằm đ p ứng với các tác nhân gây stress, đòi hỏi huy động khả năng ứng phó của cá nhân. Phân loại stress Theo Hans Selye, stress có 2 loại là stress tích cực và stress tiêu cực [46].
Stress tích cực c 2 giai đoạn: Giai đoạn báo động stress: cơ thể huy động tất cả c c cơ quan để đ p ứng những nguy cơ gây ra bởi yếu tố gây stress. Não tạo ra những chất trung gian hóa học gửi đến hệ hô hấp, m u và cơ, làm gia tăng nhịp thở, nhịp tim, huyết p, đồng tử giãn Đồng thời, đƣờng huyết, adrenalin và cholesterol tăng. Giai đoạn đề kháng: xảy ra nếu tiếp xúc với stress kéo dài qua một khoảng thời gian. Ở giai đoạn này cá nhân bắt đầu đề kháng với các yếu tố gây stress và biến nó phù hợp với đ p ứng của cơ thể.
Stress tích cực: xuất hiện trong thời gian ngắn với tính chất, cƣờng độ vừa phải, lúc này cơ thể có thể tạo nên sức mạnh thể chất và tinh thần để thích ứng tức thì với stress. Nó có thể giúp cá nhân cải thiện tƣ duy, trí nhớ, sáng tạo, tạo nên động lực, sự hào hứng, hăng h i và năng động. Stress tiêu cực: khi tình huống gây stress là bất ngờ, quá dữ dội, hoặc quen thuộc nhƣng lặp đi lặp lại k o dài, cơ thể dần sử dụng hết các dạng năng lƣợng để đ p ứng và lúc này bắt đầu bƣớc vào giai đoạn kiệt quệ. Bởi vì sự dự trữ năng lƣợng của cơ thể để chiến đấu chống lại stress có giới hạn, một khi năng lƣợng khô kiệt, cá nhân sẽ giảm khả năng miễn dịch, giảm hứng thú hoạt động, thích nghi kém.
Stress không hẳn luôn luôn có hại và tiêu cực mà phụ thuộc vào việc chúng ta trải nghiệm nó[7]. Nguyên nhân gây ra stress Nguyên nhân sinh ra stress có thể do môi trƣờng bên ngoài và do chính bản thân mỗi ngƣời tạo ra [46]. Bên ngoài: Thay đổi, biến động quá lớn trong cuộc sống, kh khăn trong vấn đề tài chính, áp lực công việc, quá bận rộn, không có thời gian thƣ giãn, xả stress, xung đột trong mối quan hệ xã hội, gia đình Bản thân: Lo lắng k o dài, suy nghĩ cứng nhắc, thiếu linh hoạt, cảm thấy bi quan, tiêu cực, sống khép mình, tự trò chuyện, kỳ vọng không thực tế hay quá cầu toàn, bàng quan với những sự việc xảy ra.