mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2000-2013. Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài phục vụ cho phát triển đất nƣớc. 5 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Các quan niệm và bản chất của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Các lý thuyết giải thích sự xuất hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Lý thuyết hiện đại về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) đƣợc đề cập lần đầu tiên trong luận án tiến sỹ kinh tế của Stephan Hymer [14], Viện công nghệ Massachusetts vào năm 1960. Hymer đã dựa vào sự không hoàn hảo của thị trƣờng quốc tế và thị trƣờng quốc gia về các sản phẩm và các yếu tố sản xuất để giải thích sự đầu tƣ vốn sang các nƣớc khác. FDI đã đƣợc Hymer giải thích là do sự khai thác các lợi thế so sánh mà công ty đầu tƣ có lợi thế hơn so với các công ty địa phƣơng: nguồn lực tài trợ rẻ hơn, nhãn hiệu hàng hoá, bản quyền công nghệ, kỹ năng quản lý và các tài sản khác vƣợt trội hơn.
Công ty tiết kiệm đƣợc chi phí khi công ty hiểu đƣợc các thị trƣờng nhất định về đầu vào trung gian, bởi vì các thị trƣờng này thƣờng có tính không hoàn hảo cao. Đầu tƣ quốc tế theo chiều rộng do các công ty tin vào thị trƣờng về tài sản vô hình nhƣ nhãn mác hàng hoá hay công nghệ, trong khi đó đầu tƣ quốc tế theo chiều sâu chủ yếu do các công ty tin vào thị trƣờng về các sản phẩm trung gian. Lý luận này của S. Hymer sau đó đã đƣợc Charles Kindleberger phát triển vào năm 1969 và đã trở thành cơ sở cho hàng loạt các lý thuyết khác dựa trên cơ sở sự không hoàn hảo của các nhân tố thị trƣờng và nhân tố sản phẩm.
Hymer và Kindleberger thì sự không hoàn hảo của thị trƣờng xẩy ra một cách tự nhiên, nhƣng thƣờng do các chính sách của công ty và của Chính phủ tạo nên. Chính phủ có thể tạo nên sự không hoàn hảo của thị trƣờng thông qua các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, chính sách mua bán ƣu đãi, ƣu đãi thuế, kiểm soát thị trƣờng vốn và các chính sách tƣơng tự khác. 6 z Một trong những lý thuyết đáng chú ý về FDI là lý thuyết của hai nhà kinh tế Raymond Veron (1966) và Richard Caves (1971) thuộc trƣờng Đại học Harvard đã đƣa sự không hoàn hảo của thị trƣờng vào lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm để giải thích động lực của FDI. Các sản phẩm mới có nguồn gốc từ các nƣớc giàu có điều kiện cầu về sản phẩm cho phép công ty tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).
Cuối cùng các sản phẩm này đƣợc mô phỏng và trở thành sản phẩm chuẩn (với chi phí nghiên cứu thể hiện các sản phẩm này giảm tƣơng đối và chi phí lao động tăng lên tƣơng đối). Sự thay đổi của các nhân tố tƣơng đối mạnh đƣợc phản ánh bởi FDI, sự đổi mới sản phẩm gắn liền với địa điểm sản xuất đƣợc chuyển sang các nƣớc đang phát triển có chi phí lao động thấp hơn. Quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI). Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đƣa ra khái niệm về FDI của các cơ quan, tổ chức.
Tổ chức thƣơng mại thế giới đƣa ra định nghĩa nhƣ sau về FDI: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đƣợc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản đƣợc gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI đƣợc định nghĩa là “FDI là một hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế 7 z nƣớc chủ đầu tƣ, mục đích của chủ đầu tƣ là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp". Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đƣa ra khái niệm: “một doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp là một doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân hoặc không có tƣ cách pháp nhân trong đó nhà đầu tƣ trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thƣờng hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tƣ trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam sửa đổi, ban hành năm 2000, đã xác định: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này [9].
Khái niệm của OECD về cơ bản cũng giống nhƣ khái niệm của IMF về FDI, đó là cũng thiết lập các mối quan hệ lâu dài (tƣơng tự với việc theo đuổi lợi ích lâu dài trong khái niệm của IMF), và tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ ra cụ thể hơn các cách thức để nhà đầu tƣ tạo ảnh hƣởng đối với hoạt động quản lý doanh nghiệp, đó là: Hoặc thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có hoặc tham gia vào một doanh nghiệp mới. Về quyền kiểm soát doanh nghiệp FDI, OECD quy định rõ là từ 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết trở lên. Nhƣ vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đƣa ra khái niệm về FDI, song ta có thể đƣa ra một khái niệm tổng quát nhất, đó là: 8 z Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là hình thức mà nhà đầu tƣ bỏ vốn để tạo lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ.
Trong đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tƣ và giữ quyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tƣợng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu đƣợc lợi nhuận từ các hoạt động đầu tƣ đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài của nƣớc sở tại. Nhƣ vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tƣ bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tƣ trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tƣợng đầu tƣ. Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tƣ quốc tế là sự đầu tƣ vƣợt ra khỏi biên giới quốc gia và thƣờng tồn tại dƣới hai hình thức chính: đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Porfolio Investment - FPI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI).
Những khoản đầu tƣ đƣợc gọi là đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài khi nhà đầu tƣ nƣớc ngoài nắm giữ một mức độ kiểm soát nhất định đối với các hoạt động đầu tƣ của chính nó và mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tƣ trực tiếp và doanh nghiệp và mức độ ảnh hƣởng quan trọng vào quản lý doanh nghiệp. Nhƣ vậy, những khoản đầu tƣ quốc tế khác đƣợc gọi là đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài. Theo hƣớng dẫn của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF- International Monetary Fund) thì FDI là một loại đầu tƣ quốc tế trong đó mức sở hữu của nhà đầu tƣ trực tiếp trong doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp từ 10% vốn thành lập ban đầu hoặc vốn có quyền quyết định trong quản lý doanh nghiệp trở lên. Từ đó có thể suy ra rằng FPI là sự đầu tƣ ra nƣớc ngoài mà trong đó nhà đầu tƣ nắm mức độ kiểm soát nhỏ hơn 10%.
FPI nhìn chung đƣợc xem là sự đầu tƣ vào chứng khoán nƣớc ngoài, nó thƣờng đƣợc thực hiện qua các trung gian tài chính nhƣ quỹ hỗ tƣơng (Mutual Funds) và các quỹ hƣu trí (Pension Funds). 9 z Tuy nhiên, không phải mọi nƣớc đều chấp nhận hƣớng dẫn của IMF mà có thể có sự quan niệm khác nhau về FDI và vì vậy số liệu thống kê về FDI ở một số nƣớc có cách tính khác nhau. Không phải tất cả các nƣớc sử dụng ngƣỡng 10% để xác định FDI: mặc dù ngƣỡng 10% đƣợc xác định để định nghĩa FDI trong cán cân thanh toán, nhƣng một số nƣớc lại có thể chọn ngƣỡng nhỏ hơn 10% hoặc lớn hơn 10%. Ví dụ: số liệu về FDI đầu tƣ vào Trung Quốc đƣợc dựa trên cơ sở tổng số vốn của các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, trong đó bao gồm cả vốn góp liên doanh của đối tác Trung Quốc.
FDI thƣờng do các công ty đa quốc gia (MNC) đầu tƣ thông qua các công ty nƣớc ngoài (nhƣ các công ty con hoặc chi nhánh) và nắm quyền kiểm soát trực tiếp các công ty này. FDI thể hiện ở hai loại chính: các khoản chuyển giao trực tiếp thuần từ công ty mẹ sang các công ty con ở nƣớc ngoài hoặc là bằng vốn tự có hoặc bằng các khoản cho vay; các khoản lãi giữ lại đƣợc công ty con tái đầu tƣ. Tuy nhiên, những khoản tài trợ cho đầu tƣ ở công ty con ở nƣớc ngoài không đƣợc coi là FDI gồm: vay tại nƣớc nhận đầu tƣ, phát hành cổ phiếu, trái phiếu tại nƣớc nhận đầu tƣ và vốn liên doanh của nƣớc nhận đầu tƣ. Nhƣ vậy, số vốn FDI có thể nhỏ hơn tổng số vốn đầu tƣ của công ty con ở nƣớc ngoài.
So với FPI thì FDI nhìn chung thƣờng có quan hệ chặt chẽ hơn với sự phân bổ các luồng vốn thực. Tuy nhiên, vẫn còn có các số liệu thống kê về FDI liên quan đến các luồng tài chính không hẳn phản ánh sự phân bổ đầu tƣ thực tế.