đặt vấn đề quốc phòng trong bối cảnh thế giới có những biến chuyển lớn và sâu sắc về so sánh tƣơng quan lực lƣợng cũng nhƣ trong quan hệ với các nƣớc lớn và các khối độc lập. Giai đoạn này, Nhật Bản xác định 03 trụ cột của công cuộc phòng thủ đất nƣớc là dựa vào dân; xây dựng một lực lượng phòng thủ vừa phải theo Hiến pháp; duy trì liên minh với Mỹ. Đồng thời, Nhật Bản vẫn xác định phƣơng châm “tiến tới tự phòng thủ trên cơ sở liên minh với Mỹ”. Mục tiêu chủ yếu trƣớc mắt là nhằm đủ sức đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh thông thƣờng quy mô hạn chế trên cơ sở có sự phối hợp chi viện của Quân đội Mỹ, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh và tập trung đối phó từ hƣớng Bắc (phía Liên Xô tới).
Các kế hoạch quốc phòng, từ năm 1977, Nhật Bản bắt đầu áp dụng phƣơng pháp mới về lập kế hoạch quốc phòng. Nếu trƣớc đây Nhật Bản áp dụng kế hoạch 05 năm, quy định rõ số lƣợng và loại vũ khí trang bị cần phải đạt đƣợc trong mỗi kế hoạch 05 năm đó, nay áp dụng từng năm tài khóa, quy định chỉ tiêu xây dựng lực lƣợng từng năm và vạch phƣơng hƣớng chung cho kế hoạch dài hạn. Về ngân sách, trƣớc đây ngân sách của kế hoạch 05 năm đƣợc quy định bằng con số cụ thể, nay ngân sách chỉ có tính định hƣớng cơ bản, nhằm giảm bớt tác động của lạm phát đối với việc hoàn thành kế hoạch 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quân sự. Kế hoạch quốc phòng các năm từ năm 1977 - 1980: Về ngân sách quốc phòng, tháng 11/1976, Nội các Nhật Bản quy định ngân sách quốc phòng hàng năm không đƣợc vƣợt quá 01% tổng sản phẩm quốc dân (GDP).
Trong các kế hoạch quốc phòng năm 1977 - 1980, Nhật Bản chi trung bình hàng năm 08 - 10 tỉ USD. Ngày 28/11/1978, Nội các Nhật Bản thông qua Phƣơng châm Chỉ đạo mới về hành động quân sự chung Nhật - Mỹ nhằm củng cố vai trò của Mỹ ở khu vực, trong đó Nhật Bản đóng vai trò phòng thủ, Mỹ đóng vai trò tấn công. Trƣớc đó, ngày 12/8/1978, Nhật Bản đã ký Hiệp ƣớc Hòa bình và Hữu nghị với Trung Quốc. Tính đến năm 1980, tổng lực lƣợng thƣờng trực là 241.900 quân (Lục quân: 155.200 quân, Không quân: 44.600 quân, Hải quân: 42.
Các đơn vị chiến đấu có 12 sƣ đoàn bộ binh, 01 sƣ đoàn bộ binh cơ giới, 01 lữ tăng, 01 lữ đoàn hỗn hợp, 01 lữ đoàn ĐBĐK. Kế hoạch quốc phòng 1981 - 1985: Từ năm 1981, Nhật Bản trở lại việc thực hiện kế hoạch 05 năm có điều chỉnh hàng năm. Trong Kế hoạch quốc phòng 1981 - 1985 (Kế hoạch lần thứ 6), Nhật Bản đề ra mục tiêu nâng cao chất lƣợng LLPV, từng bƣớc chia sẻ trách nhiệm phòng thủ với Mỹ. Chi phí quốc phòng dự kiến từ 62 - 65 tỉ USD, trong đó mua một số vũ khí chính là: Lục quân: 373 xe tăng kiểu 74, tăng 34% cơ số đạn; Không quân: 75 máy bay tiêm kích F-15, đƣa vào hoạt động 23 chiếc F-15, loại bỏ dần loại máy bay F- 104J và F-86; Hải quân đƣa vào hoạt động liên đội P-3C đầu tiên (09 chiếc) thành lập Bộ Tƣ lệnh Tàu ngầm trực thuộc Bộ Tƣ lệnh Hạm đội Tự vệ.
Tính đến hết kế hoạch này, lực lƣợng thƣờng trực theo biên chế là 254.000 quân (Lục quân: 156.300 quân, Không quân 45.700 quân, Hải quân 43. Các đơn vị chiến đấu có 12 sƣ đoàn bộ binh, 01 sƣ đoàn thiết 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáp, 02 lữ đoàn hỗn hợp, 01 lữ đoàn ĐBĐK. Kế hoạch quốc phòng 1986 - 1990: Là Kế hoạch quốc phòng lần thứ bảy với chi phí quốc phòng 18. Kế hoạch này đã mua 246 xe tăng nâng tổng số xe tăng lên 1.205 chiếc, 310 xe thiết giáp nâng tổng số lên 949 chiếc, 277 khẩu pháo mặt đất các loại, mua tên lửa phòng không Hawk cải tiến lần 02 để thay thế 04 cụm Hawk thƣờng, 43 máy bay lên thẳng chống tăng AH-1S để nâng từ 02 liên đội với 32 máy bay lên 04 liên đội chiến đấu và 01 liên đội dự bị với 74 máy bay, mua 24 máy bay lên thẳng CH - 47, mua 54 tên lửa SSM để thành lập 03 cụm tên lửa đất đối biển.
Về Không quân, mua 63 máy bay F-15 nâng từ 5 liên đội F-15 với 115 máy bay lên 07 liên đội F-15 với 163 máy bay và nâng tổng số máy bay chiến đấu lên 320 chiếc, mua 05 máy bay E-2C, mua 120 bệ phóng tên lửa Patriot thay thế cho 05 cụm Nike-J. Hải quân mua 05 tàu ngầm nâng tổng số lên 16 tàu, 09 tàu khu trục tên lửa nâng tổng số tàu khu trục và hộ vệ lên 62 chiếc (trong đó có 43 tàu tên lửa), mua 50 máy bay P-3C nâng tổng số máy bay tuần tiễu chống ngầm lên 100 chiếc và 12 máy bay lên thẳng săn mìn. Bối cảnh điều chỉnh chiến lƣợc quân sự của Nhật Bản 1. Bối cảnh quốc tế và khu vực + Sự vận động biến đổi của cục diện thế giới, cùng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng tạo môi trường thuận lợi cho Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc toàn diện.
Chiến tranh Lạnh kết thúc, trật tự “hai cực” do Mỹ và Liên Xô đóng vai trò chủ đạo sụp đổ đã tạo ra “cú sốc” địa - chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX, tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống quốc tế suốt nhiều năm sau đó nói chung cũng nhƣ ảnh hƣởng trực tiếp đến sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản nói riêng, cụ thể trên một số mặt sau: Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên Xô đã khiến Nhật Bản buộc phải điều 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉnh đối tƣợng tác chiến. Từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Nhật Bản chính là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở khu vực CA - TBD, là tiền đồn ngăn chặn sự “lan tràn và bành trướng” của Chủ nghĩa Cộng sản xuống phía Nam. Với tƣ cách này, dù không công khai nhƣng trong suốt thời gian Chiến tranh Lạnh, Liên Xô chính là đối tƣợng tác chiến chủ yếu của Nhật Bản, đặc biệt là sau khi Trung Quốc tăng cƣờng cải thiện quan hệ với Mỹ, Liên Xô trở thành đối tƣợng tác chiến duy nhất của LLPV Nhật Bản. Chính vì vậy, sự sụp đổ của Liên Xô tất yếu đã khiến cả hệ thống quân sự của Nhật Bản mất đi mục tiêu và phƣơng hƣớng, từ đó, tất yếu phải tiến hành điều chỉnh.
Thứ hai, sự sụp đổ của Liên Xô đã khiến Mỹ trở thành siêu cƣờng duy nhất. CA - TBD vốn dĩ ngay trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng chỉ đƣợc coi là “ngoại duyên” của sự tranh giành quyền lực Mỹ - Xô, nay càng nhận đƣợc ít sự quan tâm từ Mỹ, thể hiện ở việc nƣớc này đã rút quân khỏi các căn cứ quân sự ở Philippines. Trong hơn một thập kỷ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ tập trung chủ yếu vào Trung Đông - khu vực vốn đƣợc coi là trung tâm của “bàn cờ địa - chính trị quốc tế” với việc phát động hàng loạt các cuộc chiến tranh ở Vùng Vịnh (1991), Nam Tƣ (1999), Afghanistan (2001), Iraq (2003)… Sự thiếu vắng của Liên Xô và sự “thờ ơ” của Mỹ đối với khu vực đã để lại “khoảng trống quyền lực”. Các cƣờng quốc “hạng trung” nhƣ Nhật Bản và “mới nổi” nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ hoàn toàn có thể “lấp chỗ trống” đó do những nƣớc này đều có quyết tâm trở thành một cực trong thế giới đa cực mới và đã thực hiện những chính sách khôn ngoan nhằm tăng cƣờng tiềm lực quốc gia, tránh bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh giữa hai siêu cƣờng Xô - Mỹ.
Thứ ba, Chiến tranh Lạnh kết thúc đã thúc đẩy mạnh mẽ xu thế hội nhập quốc tế. Trên thực tế, hội nhập quốc tế mà thực chất là toàn cầu hóa ra đời từ trƣớc khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và công bằng mà nói, nó chính là một 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong những nguyên nhân đẩy nhanh sự cáo chung của thế giới hai cực. Tuy nhiên, phải đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, toàn cầu hóa mới thực sự phát triển mạnh mẽ và trở thành xu thế tất yếu của thời đại, mà “muốn tiến lên thì các dân tộc không được để nhỡ con tàu lịch sử này dù nó tốt hay là xấu”. Toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa về kinh tế đã làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, nâng cao vai trò của các quốc gia, bao gồm cả những nƣớc nhỏ, nƣớc vừa và các cƣờng quốc hạng hai.
Khác với toàn cầu hóa, khu vực hóa là sự hội nhập quốc tế ở quy mô nhỏ hơn. Xu thế xích lại gần nhau giữa các quốc gia gần gũi về mặt địa lý đã dẫn đến sự ra đời và phát triển nở rộ của các tổ chức khu vực, trong đó, CA - TBD là một trong những khu vực có nhiều tổ chức khu vực hoạt động thành công nhất, nổi bật nhƣ Khu vực Thƣơng mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), APEC, SAARC và đặc biệt là ASEAN không ngừng phát triển mạnh mẽ, ngày càng phát huy vai trò trung tâm trong các cơ chế an ninh khu vực. Chính những diễn đàn và tổ chức này đã tạo cơ hội để Nhật Bản tham dự nhiều hơn vào những vấn đề quốc tế và khu vực. + Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, đặc biệt là xu hướng ưu tiên phát triển hải quân, đẩy mạnh thực hiện tham vọng trở thành cường quốc biển làm cơ sở để trở thành cường quốc thế giới.
Sau gần 40 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã có những bƣớc tiến mạnh mẽ vững chắc. Với nền kinh tế phát triển với tốc độ cao (xấp xỉ 10%), đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới, sau đó vƣợt Pháp, Đức, Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vào năm 2010. Trong khi Trung Quốc ngày càng tăng cƣờng ảnh hƣởng của mình trên tất cả các mặt thì Nhật Bản chủ yếu vẫn thực hiện chính sách “ngoại giao ký séc”, trong khi Trung Quốc đang ngày càng nỗ lực xƣng bá ở khu vực và vƣơn lên tầm toàn cầu thì Nhật Bản vẫn là 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “người khổng lồ một chân”, mặc dù mạnh về kinh tế, có tham vọng về chính trị nhƣng vẫn chỉ là “người lùn về quân sự”.