CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 1. Tổng quan về chiến lược 1. Khái niệm chiến lược Thuật ngữ chiến lược ngày nay được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Đã có nhiều khái niệm chiến lược được đưa ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau.
Chiến lược là việc xác định mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, chọn lựa tiến trình hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó (Chandler Jr, 1962). Chiến lược là sự tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và các chuỗi hoạt động của tổ chức thành một tổng thể (Quinn, 1980). Định nghĩa có tính cụ thể và ngắn gọn hơn cho rằng, chiến lược là những phương tiện đạt tới Luận văn thạcchiến lượcsĩ khoa học những mục tiêu dài hạn (David, 2011). Theo Johnson và Scholes, là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn, nhằm dành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan (Johnson and Scholes, 1999).
Mintzberg đã làm rõ hơn các khía cạnh chiến lược với 5 chữ P: “Plan (Kế hoạch): chuỗi các hành động được dự định một cách nhất quán; Pattern (Mô thức): Sự kiên định về hành vi; Position (Vị thế): Sự phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó; Perspective (Quan niệm): Cách thức để nhận thức về thế giới; Ploy (Thủ thuật, mưu lược): Con đường, kế sách, cách thức để đối phó với các đối thủ (Mintzberg et al. Trong khi đó, trên quan điểm về cạnh tranh, Porter cho rằng chiến lược là sự tao ra vị thế độc đáo và có giá trị bao gồm sự khác biệt hóa, sự lựa chọn mang tính đánh đổi nhằm tập trung nhất các nguồn lực để từ đó tạo ra ưu thế cho tổ chức (Porter, 1998b). 8 Một cách tổng quát nhất, chiến lược có thể hiểu là việc xác định phương hướng, cách thức triển khai các chương trình hành động, phân bổ nguồn lực để cạnh tranh thành công và đạt được các mục tiêu tổ chức đặt ra. Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp Tùy theo mục đích hoạch định và phạm vi hoạch định chiến lược mà sẽ có những cách phân loại khác nhau.
Wheelen and Hunger cho rằng có ba cấp chiến lược là chiến lược cấp công ty, cấp kinh doanh và cấp chức năng (Wheelen and Hunger, 2012). Phân chia chi tiết hơn theo phạm vi thì có các loại chiến lược gồm chiến lược cấp công ty, cấp kinh doanh, chiến lược tái cấu trúc và sáp nhập, chiến lược quốc tế, chiến lược hợp tác (Hitt et al. Một góc độ khác, Hill and Jones chia chiến lược doanh nghiệp thành chiến lược công ty, chiến lược kinh doanh, chiến lược chức năng, chiến lược trong môi trường toàn cầu (Hill and Jones, 2010). Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân chia cấp chiến lược trong Luận văn thạc sĩ khoa học doanh nghiệp.
Nhìn chung, một doanh nghiệp điển hình thường có 3 cấp chiến lược sau: 1. Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty hướng tới các mục tiêu cơ bản dài hạn trong phạm vi của cả công ty. Trong cấp chiến lược này, chiến lược phải trả lời được câu hỏi: “Các hoạt động nào có thể giúp công ty đạt được khả năng sinh lợi cực đại, giúp công ty tồn tại và phát triển?”. Nói một cách cụ thể chiến lược cấp công ty giúp doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực kinh doanh.
Có vô số các chiến lược cấp công ty với những tên gọi khác nhau. Theo David (2011), chiến lược cấp công ty có thể được phân thành 14 chiến lược và được chia thành 5 nhóm: (1) nhóm chiến lược chuyên sâu gồm 3 chiến lược: thâm nhập thị trường, phát triển thị trường và phát triển sản phẩm; (2) nhóm chiến lược kết hợp gồm 3 chiến lược: kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau và kết hợp theo chiều ngang; (3) nhóm chiến lược mở rộng hoạt động gồm 3 chiến lược: đa dạng hóa hoạt động đồng tâm, đa dạng hóa hoạt động theo chiều 9 ngang, đa dạng hóa hoạt động kiểu kết khối; (4) nhóm chiến lược suy giảm hay chiến lược phòng thủ gồm 3 chiến lược: thu hẹp bớt hoạt động, cắt bỏ bớt hoạt động, thanh lý; (5) nhóm chiến lược khác gồm chiến lược liên doanh và chiến lược hỗn hợp. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (hay còn gọi là chiến lược kinh doanh/chiến lược cạnh tranh) liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên thị trường/lĩnh vực kinh doanh cụ thể. Chiến lược kinh doanh bao gồm cách thức cạnh tranh mà tổ chức lựa chọn, cách thức tổ chức định vị trên thị trường để đạt được lợi thế cạnh tranh và các chiến lược định vị khác nhau có thể sử dụng trong bối cảnh cụ thể của mỗi ngành.
Theo Porter (1998a) có 3 chiến lược cạnh tranh tổng quát, đó là: Chiến lược dẫn đầu chi phí thấp Chiến lược dẫn đầu chi phí thấp nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ với Luận văn thạc sĩ khoa học chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, chiến lược này tạo lợi nhuận bằng cách: Bán rẻ hơn đối thủ, chiếm được thị phần cao hoặc bán giá trung bình trên thị trường với suất lợi nhuận cao hơn. Trong trường hợp cuộc chiến tranh giá cả xảy ra, doanh nghiệp nào giảm thiểu được chi phí thấp nhất sẽ có lợi thế cầm cự tốt hơn các đối thủ trong ngành. Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ Chiến lược khác biệt nhằm cung cấp cho người mua các sản phẩm và dịch vụ có những thuộc tính: Độc đáo, duy nhất với những đặc điểm mà khách hàng nhận biết là khác biệt, đánh giá cao và sẵn sàng trả tiền thêm cho sự khác biệt đó. Vì vậy doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn đối thủ cạnh tranh.
Có hai hướng khác biệt; đó là: khác biệt hóa về phía trên và khác biệt hóa về phía dưới. Lợi ích của chiến lược khác biệt cho phép doanh nghiệp tự bảo vệ trước sự tấn công của các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Chiến lược tập trung 10 Doanh nghiệp định hướng vào một khu vực đặc biệt của một ngành. Chiến lược tập trung không giống chiến lược dẫn đầu chi phí thấp hay chiến lược tạo sự khác biệt nhằm phục vụ một thị trường lớn mà nó chỉ tập trung vào một khu vực nhỏ của thị trường.
Sức mạnh của chiến lược tập trung thể hiện ở mức độ thích hợp cao của doanh nghiệp trong việc tạo ra ưu thế cạnh tranh so với đối thủ trong khu vực thị trường hẹp đó. Chiến lược cấp chức năng Chiến lược cấp chức năng (hay còn gọi là chiến lược hoạt động) là chiến lược của các bộ phận chức năng (như Marketing, dịch vụ khách hàng, phát triển sản xuất, R&D v. Các chiến lược này giúp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động trong phạm vi công ty, qua đó giúp các chiến lược kinh doanh, chiến lược cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu. Năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và năng lực cốt lõi Luận văn thạc sĩ khoa học 1.
Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh (NLCT), khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh là những khái niệm có cùng nội dung. Thuật ngữ NLCT có liên quan mật thiết đến cạnh tranh và ngày càng được sử dụng rộng rãi nhưng hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất (Nguyễn Viết Lâm, 2014). NLCT là cách thức các nước tạo điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển kinh tế. Nó đo lường những gì hình thành nên sự phát triển này, những thứ như chính sách, thể chế và các yếu tố quyết định năng suất.
Nói đơn giản, NLCT theo dõi những yếu tố quan trọng giúp một nền kinh tế có năng suất lao động cao và so sánh thành quả của mỗi quốc gia với chuẩn mực thế giới (Nguyễn Xuân Thành, 2014). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2014) định nghĩa NLCT là khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vừng. Trên góc độ tổng quát lấy con người làm trung tâm, khái niệm NLCT được diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) quan niệm, đối với doanh nghiệp, khả 11 năng cạnh tranh có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trưởng mới, mang lại giá trị cho các cổ đông. Đối với xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh là tạo ra việc làm mới và điều kiện sống tốt hơn (Schwab and Savier, 2015).
Lợi thế cạnh tranh Một doanh nghiệp được cho là có lợi thế cạnh tranh (LTCT) khi nó thực hiện một chiến lược tạo giá trị không đồng thời được thực hiện bởi bất kỳ đối thủ cạnh tranh hiện tại hoặc tiềm năng (Barney, 1991). Một công ty được cho là có LTCT bền vững khi nó thực hiện một chiến lược tạo giá trị không đồng thời được thực hiện bởi bất kỳ đối thủ cạnh tranh hiện tại hoặc tiềm năng và khi các công ty khác không thể sao chép những lợi ích của chiến lược này. Porter cho rằng, LTCT (theo đó là lợi nhuận cao hơn) sẽ đến với các công ty nào có thể tạo ra giá trị vượt trội. Cách thức để tạo ra giá trị vượt trội là hướng đến việc giảm thấp chi phí kinh doanh và/ hoặc tạo khác biệt sản phẩm vì thế khách hàng đánh giá nó cao hơn và sẵn lòng trả một mức giá tăng thêm (Porter, 1998b).
Luận văn thạc sĩ khoa học Dưới góc nhìn khác về LTCT và lợi nhuận, Hill and Jones (2010) cho rằng một công ty được xem là có LTCT so với đối thủ khi lợi nhuận của nó cao hơn lợi nhuận bình quân ngành. Công ty được xem là có LTCT bền vững khi nó có thể duy trì mức lợi nhuận trên mức bình quân ngành trong một thời gian dài. Mục tiêu chính của chiến lược là đạt được LTCT bền vững, ngược lại khi có LTCT bền vững sẽ mang lại lợi nhuân và tăng trưởng lợi nhuận vượt trội. LTCT dẫn đến lợi nhuận vượt trội.
Ở cấp độ cơ bản nhất, lợi nhuận của một công ty phụ thuộc vào ba yếu tố: (1) giá trị khách hàng nhận được từ sản phẩm công ty; (2) giá bán sản phẩm của công ty và (3) chi phí tạo ra sản phẩm đó.