CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI CÁC CẢNG HÀNG KHÔNG, SÂN BAY 1. Một số khái niệm 1. Dịch vụ Có thể hiểu về dịch vụ theo rất nhiều cách. Dưới đây là một vài khái niệm thường gặp về dịch vụ như sau: - Theo quan điểm truyền thống: những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là dịch vụ, nó bao gồm các hoạt động: + Khách sạn, cả hàng ăn, hiệu sửa chữa, bảo hành + Giải trí, phim ảnh, bảo tàng + Chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm + Tư vấn, giáo dục.
đào tạo + Tài chính, ngân hàng + Bán buôn, bán lẻ + Bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, phương tiện công cộng, CNTT + Khu vực chính phủ: tòa án, cảnh sát, quân đội, cứu thương, cứu hỏa,… • Theo cách hiểu phổ biến: dịch vụ là một hoạt động xã hội mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. • Theo Philip Kotler, dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. • Dịch vụ bao gồm ba bộ phận hợp thành, đó là: + Dịch vụ căn bản là hoạt động thực hiện mục đích chính, chức năng, nhiệm vụ chính của dịch vụ.
5 + Dịch vụ hỗ trợ là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ cơ bản và làm tăng giá trị của dịch vụ cơ bản. Ví dụ: dịch vụ thiết kế và trang trí nhà ở, dịch vụ tư vấn sức khỏe,… + Dịch vụ toàn bộ: bao gồm cả 2 dịch vụ: dịch vụ căn bản và dịch vụ hỗ trợ. Tóm lại, dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt”, bao gồm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, phù hợp với giá cả, hình ảnh và uy tín doanh nghiệp. Chất lượng dịch vụ 1.
Chất lượng Theo Philip B. Crosby (1979) trong quyển “Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu. [11] Theo TCVN ISO 9001:2015 thì “Một tổ chức định hướng vào chất lượng sẽ thúc đẩy văn hóa giúp dẫn đến hành vi, thái độ, hoạt động và quá trình mang lại giá trị thông qua việc đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng và các bên quan tâm khác có liên quan.” Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của tổ chức được xác định bằng khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan. Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ không chỉ bao gồm chức năng và công dụng dự kiến mà còn bao gồm cả giá trị và lợi ích được cảm nhận đối với khách hàng.” Có rất nhiều cách để diễn đạt về chất lượng dịch vụ nhưng nội dung chính của nó vẫn là “sự thỏa mãn nhu cầu”.
Vì vậy, doanh nghiệp cần nhận thức được sản phẩm dù có hình thức đẹp như thế nào mà không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì vẫn coi là kém chất lượng. 6 Chất lượng là một phạm trù rất rộng và phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội, tuỳ từng góc độ nghiên cứu khác nhau người ta có thể đưa ra những quan niệm chất lượng khác nhau. Chất lượng dịch vụ Trong hoạt động dịch vụ, chất lượng không chỉ là tiêu chí đánh giá, mà còn là điều mang đến cho khách hàng sự thoả mãn, hài lòng, tạo thêm nhu cầu, mong muốn và chờ đợi. Chất lượng không chỉ là sự thoả mãn của khách hàng trong lúc tiêu thụ nó, mà chất lượng dịch vụ còn là được cảm nhận thông qua những thông tin được cung cấp cho khách hàng nhanh chóng, dễ dàng, tiện lợi hướng dẫn sử dụng rõ ràng, dịch vụ có bảo đảm, thái độ, tác phong phục vụ niềm nở nhiệt tình, thủ tục đơn giản.
Chất lượng dịch vụ khó xác định, khó đo lường, kiểm soát và cải tiến hơn nhiều so với một sản phẩm hữu hình. Tuy nhiên, cũng như sản phẩm hữu hình, chất lượng dịch vụ được định nghĩa và đánh giá bởi khách hàng chứ không phải của người cung ứng dịch vụ. Vì vậy, có thể định nghĩa về chất lượng dịch vụ như sau: “Chất lượng dịch vụ là thoả mãn của khách hàng khi họ cảm thấy đồng tiền bỏ ra xứng đáng với những gì người cung cấp phục vụ cho họ ” hay “ Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thoả mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra.” Chất lượng dịch vụ khó đo lường, khó xác định, khó kiểm soát, khó cải tiến. Đặc trưng cơ bản của chất lượng dịch vụ khách hàng là chất lượng được xác định bởi khách hàng chứ không phải bởi người cung ứng dịch vụ.
Khách hàng thường đánh giá chất lượng một dịch vụ thông qua cảm giác chủ quan của mình. 7 Như vậy, trên quan điểm của khách hàng, chất lượng là sự so sánh giữa mong đợi về giá trị một dịch vụ với giá trị dịch vụ thực tế mà họ nhận được (đó là sự thỏa mãn) do doanh nghiệp cung cấp. Nhìn nhận về chất lượng dịch vụ có thể xem Bảng 1.1: Chất lượng dịch vụ từ quan điểm khách hàng Tỷ số A/B Chất lượng dịch vụ >1 Rất cao =1 Cao <1 Thấp A= chất lượng đạt được của dịch vụ; B= chất lượng mong đợi của khách hàng Kỳ vọng (sự mong đợi) của khách hàng tạo nên từ 4 nguồn, đó là: - Thông tin truyền miệng (word of mouth); qua giao tiếp với khách hàng khác; - Nhu cầu cá nhân, nghĩa là mức độ cấp thiết của dịch vụ - Kinh nghiệm đã trải qua của khách hàng với tổ chức cung ứng dịch vụ - Quảng cáo, khuyếch trương, thông qua quảng cáo, đội ngũ bán hàng. Trong 4 nguồn đó, chỉ có nguồn thứ 4 là nằm trong tầm kiểm soát của tổ chức cung ứng dịch vụ.
Đảm bảo và nâng cao chất lương dịch vụ, thực chất là giảm và xóa bỏ các khoảng cách, như trong Hình 1. Các khoảng cách đó là: 8 Hình 1.1: Khoảng cách nhận thức về chất lượng dịch vụ. - Giữa dịch vụ mong đợi và nhận thức về các mong đợi của khách hàng; - Giữa nhận thức của quản lý về mong đợi của khách hàng và biến nhận thức đó thành các thông số chất lượng dịch vụ; - Giữa biến nhận thức thành thông số chất lượng dịch vụ và cung ứng dịch vụ; - Giữa cung ứng dịch vụ và thông tin bên ngoài đến với khách hàng; - Giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ được thụ hưởng Chất lượng dịch vụ chịu tác động của các yếu tố - Khách hàng; - Trình độ, năng lực, kỹ năng, thái độ làm việc của nhân viên cung ứng dịch vụ; - Cơ sở vật chất: nhà xưởng, máy móc thiết bị, địa điểm phục vụ; - Môi trường hoạt động dịch vụ, bao gồm môi trường vĩ mô và vi mô. Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm vô hình, chính vì vậy rất khó để tìm ra thước đo đánh giá chất lượng dịch vụ.
Chất lượng chỉ có thể được xác định thông qua cảm nhận của khách hàng, những người đã sủ dụng dịch vụ. Khách hàng đánh giá chất lượng một dịch vụ thông qua cảm giác chủ quan của mình cũng như thông qua các nhân viên cung ứng dịch vụ. Cùng một loại dịch vụ nhưng cách phục vụ khác nhau của từng nhân viên đối với từng khách hàng thì đánh giá họ cũng khác nhau. Với mục tiêu cung cấp cho khách hàng những dịch vụ ngày càng hoàn hảo, các nhà cung cấp cần nghiên cứu sự cảm nhận, nhu cầu của khách hàng.
Trên thực tế một dịch vụ đem lại sự hài lòng cho khách hàng mới được coi là thành công. Do đó, việc nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên những mô hình khoa học, phù hợp với thực tế, sẽ giúp doanh nghiệp điều chỉnh, hoàn thiện dịch vụ của mình. Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, các tài liệu về chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực marketing lần đầu tiên được xuất hiện. Các công trình nghiên cứu của Sasser (1978), Grönroos (1982), Lehtinen và Lehtinen (1982), Parasuraman (1985, 1988) đã đưa ra 3 kết luận: - Việc đánh giá chất lượng dịch vụ khó khăn hơn chất lượng sản phẩm; - Đánh giá chất lượng dịch vụ không chỉ dựa vào kết của của dịch vụ mà còn phải bao gồm cả đánh giá trong quá trình chuyển giao công nghệ.
Để tìm hiểu về các mô hình chất lượng dịch vụ trong phạm vi luận văn này, tác giả giới thiệu 2 mô hình phổ biến nhất, đó là mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và mô hình chất lượng dịch vụ của Grönroos. Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman Chất lượng dịch vụ không chỉ được các khách hàng quan tâm mà chính những nhà cung ứng cũng rất coi trọng. Chính vì vậy các nhà quản lý luôn đặt 10 ra những quy định, chuẩn mực nhằm đo lường chất lượng dịch vụ. Đặc biệt với sản phẩm vô hình như dịch vụ thì việc đo lường chất lượng là vô cùng quan trọng trong việc xây dựng chiến lược chung cho toàn công ty.
Chất lượng dịch vụ có thể được định nghĩa là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Từ nhu cầu thực tế này, thang đo SERVQUAL (Service Quality) đã ra đời. Theo mô hình SERVQUAL, chất lượng dịch vụ được xác định như sau: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng. • Phần thứ nhất nhằm xác định kỳ vọng của khách hàng đối với loại dịch vụ của doanh nghiệp nói chung.
Nghĩa là không quan tâm đến một doanh nghiệp cụ thể nào, người được phỏng vấn cho biết mức độ mong muốn của họ đối với dịch vụ đó. • Phần thứ hai nhằm xác định cảm nhận của khách hàng đối với việc thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp khảo sát. Nghĩa là căn cứ vào dịch vụ cụ thể của doanh nghiệp được khảo sát để đánh giá.