Chương 1 : Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho người lao động. - Chương 2: Thực trạng đào tạo nghề cho lao động tại quận Hà Đông, Hà Nội - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện đào tạo nghề cho lao động trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm nghề (nghề nghiệp) Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nghề.
Nghề là tập hợp những công việc tương tự về nội dung và có liên quan tới nhau ở mức độ nhất định với những đặc tính vốn có, đòi hỏi người lao động có những hiểu biết đồng bộ về chuyên môn nghiệp vụ, có những kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cần thiết để thực hiện [8, tr.46] Ví dụ các công việc tuyển dụng, đánh giá thực hiện công việc, xây dựng và quản lý hệ thống thù lao lao động. đều thuộc nghề quản trị nhân lực. Nghề nghiệp theo chữ La tinh (profession) có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một các chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại. Ở Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, “nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội”.
Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song đều thống nhất ở một số nét đặc trưng nhất định như sau: - Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại - Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. - Là phương tiện để sinh sống. - Là Lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội.
Nó đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 7 Trình độ lành nghề của lao động thể hiện chất lượng của lao động.
Nó thể hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết, về kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động để hoàn thành những công việc có trình độ phức tạp nhất định thuộc một nghề, một chuyên môn nào đó. Trình độ lành nghề liên quan chặt chẽ tới lao động phức tạp. Lao động có trình độ lành nghề là lao động có chất lượng cao hơn, là lao động phức tạp hơn. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động lành nghề thường tạo ra một giá trị lớn hơn so với lao động giản đơn.
Để đạt tới trình độ lành nghề nào đó, trước hết phải đào tạo nghề cho nguồn nhân lực, tức là trang bị kỹ thuật sản xuất cho người lao động, để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề, chuyên môn khác. Chuyên môn luôn gắn với những hoạt động nhất định, đặc biệt là hoạt động nghề nghiệp. Khi lao động nghề nghiệp, người lao động thực hiện các hoạt động chuyên môn. Chuyên môn là hình thức phân công lao động sâu sắc hơn do sự chia nhỏ của nghề.
Do đó nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết và thói quen thực hành trong phạm vi hẹp và sâu hơn. Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người.
Như vậy nghề trong lao động là hoạt động có chuyên môn, những lao động trực tiếp hay gián tiếp được đào tạo, hướng dẫn, chuyển giao một cách cụ thể, bài bản. Nó là những hoạt động quan trọng của con người và khi những lao động có tay nghề họ tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cao hơn cho 8 bản thân và cho xã hội. Giá trị lao động đó có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Đào tạo nghề (dạy nghề) * Khái niệm Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình [ 8, tr.
161] Đào tạo nghề là những hoạt động cung cấp những kiến thức, kỹ năng nghề và rèn luyện những phẩm chất mới cho người lao động để họ đảm nhận được các công việc nhất định [ 10, tr.164] Đào tạo nghề gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là dạy nghề và học nghề Tổ chức Lao động Quốc tế ILO định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan.” Theo Luật dạy nghề năm 2006: Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Học nghề là quá trình tiếp thu nhũng kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Qua đó, ta có thể thấy đào tạo nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. Đào tạo nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để làm việc hiệu quả, chuyên nghiệp.
* Phân loại đào tạo nghề: Căn cứ vào nghề đào tạo với người học, đào tạo nghề có bốn dạng cơ bản là: đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao. Đào tạo mới: là việc tiến hành đào tạo cho những cá nhân chưa qua đào tạo với mục tiêu chính là giúp người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất 9 định đáp ứng nhu cầu công việc của nhà tuyển dụng Đào tạo lại: là việc đào tạo cho người lao động đã qua đào tạo song chuyên môn không phù hợp với công việc đảm nhận. Đào tạo bổ sung: là việc đào tạo cho người lao động các kiến thức và kỹ năng cần thiết nhằm khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng, qua đó giúp họ hoàn thành tốt công việc được giao. Đào tạo nâng cao: là việc đào tạo nhằm giúp cho người lao động có kiến thức và kỹ năng ở trình độ cao hơn, qua đó giúp cho người lao động hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao với năng suất và hiệu quả cao hơn.
Thông thường, để thực hiện công việc được giao với các kiến thức và kỹ năng hiện có, người lao động có thể hoàn thành tốt. Tuy nhiên, nếu được đào tạo và rèn luyện ở mức cao hơn, người lao động có thể hoàn thành công việc nhanh hơn với chất lượng cao hơn. Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề, có: đào ngắn hạn và đào tạo dài hạn Đào tạo ngắn hạn: Thời gian đào tạo nghề dưới một năm, chủ yếu đối với phổ cập nghề, sơ cấp nghề. Đào tạo dài hạn: Thời gian đào tạo nghề từ một năm trở lên, chủ yếu đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.
Căn cứ vào trình độ đào tạo: đào tạo nghề có ba trình độ là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Việc đào tạo nghề được tiến hành ở các cơ sở đào tạo nghề đó là: Các trường chính quy của Nhà nước; Các cơ sở đào tạo nghề của tư nhân; các trung tâm dạy nghề của chính quyền địa phương, các cơ sở tổ chức xã hội; Các cơ sở đào tạo nghề thông qua hợp tác quốc tế. Nội dung công tác đào tạo nghề 1. Xác định nhu cầu đào tạo Nhu cầu đào tạo nghề là mong muốn được tham gia, được hiểu biết và thực hành về một hay một số nghề phù hợp với điều kiện của mỗi người lao động.
Xác định nhu cầu đào tạo là xác định một cách hiệu quả những khoảng trống giữa các kiến thức, kỹ năng mà người sử dụng lao động cần và những kiến thức và kỹ năng mà người học hiện có. 10 Xác định nhu cầu đào tạo là một quy trình để xác định ai cần được đào tạo, và đào tạo về cái gì. Quy trình này thường được tiến hành theo các bước: Bước 1: Rà soát lại khả năng của người cần đào tạo và cơ sở đào tạo nghề; Bước 2: Xác định ra những kỹ năng và kiến thức cần bổ sung Bước 3: Tập hợp và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các nhu cầu cần đào tạo. Xác định đối tượng cần đào tạo Song song với các bước, cần thu thập các thông tin để xác định những lĩnh vực mà người học có thể nâng cao năng lực thực hiện.
Người ta có thể sử dụng các cuộc điều tra từ người có nhu cầu học, những quan sát từ phía nhà quản lý và những nhận xét của người sử dụng lao động, thông qua các cuộc họp của các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và việc tự kiểm tra để thu thập thông tin. Xác định nhu cầu đào tạo có thể giúp các cơ sở đào tạo phân loại các mục tiêu trong việc thực hiện công tác đào tạo cho người học. Để tiến hành xác định nhu cầu đào tạo cần dựa trên các căn cứ sau: - Phân tích mục tiêu làm việc của từng đơn vị cần lao động và những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng để đáp ứng mục tiêu đó. - Xác định những đối tượng nào sẽ là cần thiết để đạt được hiệu quả trong công việc và cách nào để đạt hiệu quả tối đa.