Mở đầu 4 (LUAN.dien TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dien Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Chƣơng II: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bƣu Điện Chƣơng IV:Chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Bƣu Điện giai đoạn 2015-2020 Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo 5 (LUAN.dien TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dien CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Qúa trình phát triển Quản lý nguồn nhân lực 1.1 Qúa trình phát triển nguồn nhân lực Theo tác giả Bruce E Kaufman trong cuốn The Oxford Handbook of Human Resource Management mặc dù hình thức sở hữu hay thuê mƣớn lao động có từ rất lâu trong lịch sử loài ngƣời kể từ thời Trung Cổ. Tuy nhiên, ngành quản trị nguồn nhân lực hoàn thiện với đầy đủ các chức năng cơ bản của mình theo tác giả phát triển qua ba giai đoạn chính. Thời kỳ đầu là cuối thế kỷ XIX, giai đoạn 1930-1965, và giai đoạn phát triển và Quốc tế hóa quản lý nguồn nhân lực hiện nay. Thời kỳ đầu, cuối thế kỷ XIX Theo tác giả, các nét đặc thù cơ bản của quản lý nguồn nhân lực (QLNNL) tại các công ty có sự khởi đầu cùng với sự phát triển thời kỳ bùng nổ công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ XIX tại một số nƣớc trên thế giới.
Có nhiều bằng chứng cho thấy các chức năng quản lý nguồn nhân lực giống nhƣ ngày nay đƣợc xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và diễn ra đồng thời tại các quốc gia Anh, Pháp, Đức, và Hoa Kỳ. Tại Châu Á, quản lý nguồn nhân lực xuất hiện chậm hơn khoảng một thập kỷ tại Nhật Bản. Vào thời kỳ này, ngay cả các công ty lớn với hàng ngàn công nhân cũng chƣa có phòng nhân sự hoặc các chuyên viên chuyên trách về nhân sự. Việc thuê lao động, đào tạo nhân viên, chi trả thù lao cho nhân viên, kỷ luật và chấm dứt hợp đồng lao động đƣợc thực hiện theo nhiều cách thức khác nhau.
Phụ trách Quản lý nguồn nhân lực tại các công ty thƣờng sẽ do các Ông chủ, Giám đốc nhà máy hoặc Đốc Công phụ trách. Mặc dù cách thức tổ chức đơn giản nhƣ vậy, tuy nhiên mô hình quản lý này vẫn còn đƣợc duy trì cho đến ngày nay ở nhiều công ty có quy mô sản xuất nhỏ tại Hoa Kỳ. Theo kết quả khảo sát toàn nƣớc Mỹ đƣợc thực hiện vào giữa thập niên 1990, ví dụ kết quả khảo sát do Freeman và Rogers (1999, 96) thực hiện chỉ ra rằng có 30% lao động Mỹ đang làm việc tại các công ty mà không có phòng Nhân sự riêng biệt.dien TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dien Trong thời kỳ này, mô hình tổ chức phòng Quản lý nhân sự giống nhƣ hiện nay theo hai hình thức. Hình thức đầu tiên là sự xuất hiện của hoạt động phúc lợi xã hội tại nơi làm việc - Industrial welfare work xuất hiện ở thập niên 1890 khi một số các công ty cung cấp hàng loạt các tiện nghi dùng trong gia đình cho nhân công của mình tại nơi làm việc.
Các công ty này cung cấp khu vực nghỉ trƣa dành cho nhân viên, chăm sóc y tế, các chƣơng trình giải trí hàng năm, thƣ viện, tạp chí của công ty cho nhân viên, nhà nghỉ cho công nhân (Eilbirt 1959, Gospel 1992, Spencer 1984). Sau này, để quản lý các hoạt động nêu trên, các công ty bổ nhiệm một nhân sự chuyên quản lý các hoạt động này, nhân viên này đƣợc gọi là „thƣ ký phụ trách công tác phúc lợi (welfare secretary), thông thƣờng thì do phụ nữ hoặc các nhân viên hoạt động xã hội đƣợc bổ nhiệm để phụ trách các công việc này. Đức là nƣớc đi đầu ở thế kỷ XIX đi theo mô hình này. Hình thức thứ hai là phát triển theo hình thức các văn phòng phụ trách việc làm riêng biệt.
Tại các văn phòng này thƣờng có một nhân viên hoặc một vài thƣ ký cấp thấp và một ngƣời giám sát để tập trung quản lý và chuẩn hóa các chức năng liên quan đến nhân sự nhƣ thuê lao động, thanh toán lƣơng và lƣu trữ thông tin. Mô hình một phòng ban độc lập nhƣ vậy xuất hiện hầu hết các công ty lớn của Châu Âu vào thập niên 1890, ví dụ công ty thép Krupp củaĐức có phòng quản lý nhân viên, công ty thép Le Creusot của Pháp có phòng quản lý nhân viên tƣơng tự. Tại Hoa Kỳ, công ty thiết lập phòng nhân sự sớm nhất là công ty B.Goodrich Co vào năm 1906 (Eilbert 1959). Hai thuật ngữ mới lần đầu tiên xuất hiện tại Mỹ.
Thuật ngữ đầu tiên là Quản lý con người (nhân sự),personel management or personel administration, ra đời trong bối cảnh cuối thế chiến thứ nhất, khi hầu hết các công ty tại Mỹ thực hiện hai chức năng chính là công tác phúc lợi và quản lý việc làm, và các công ty này đã kết hợp hai chức năng này thành một phòng mới gọi là Phòng quản lý nhân sự/con người- Personnel Management. Chức năng chính của phòng là „việc làm - employment‟ và „dịch vụ - service‟ liên quan đến chức năng quản lý nguồn nhân lực. Trong thời kỳ này, một vài công ty Châu Âu cũng sử dụng thuật ngữ „nhân sự-personnel‟, trong khi 7 (LUAN.dien TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dien đó tại Anh vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ „công tác phúc lợi - welfare work‟. Minh chứng cho điều này là Hiệp hội các nhà phụ trách công tác phúc lợi – Association of Welfare Workers đƣợc thành lập vào năm 1913 và không thay đổi tên gọi cho đến năm 1931 khi đổi thành Cơ quan chuyên trách Lao động - Institute of Labour Management (Niven 1967).
Thuật ngữ “Nhân sự - personnel” chƣa đƣợc sử dụng rộng rãi vào thời kỳ này cho đến sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Thuật ngữ thứ hai là Quan hệ tại nơi làm việc - Industrial relations hay còn gọi là Quan hệ việc làm – employment relations. Thuật ngữ này đƣợc sử dụng phổ biến tại Mỹ và Canada những năm 1919-1920. Về mặt học thuật, cũng vào thời kỳ này, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Taylor (ngƣời Mỹ, 1856-1915 ) đã khởi xƣớng cách tiếp cận mới cho quản trị nhân sự.
Quản trị nhân sự giai đoạn này đã chú trọng đặc biệt đến cải thiện năng suất lao động và tìm ra cách thức thực hiện công việc một cách nhanh nhất. Điều này đã buộc các nhà Quản trị nhân sự quan tâm đến chức năng huấn luyện, đào tạo công nhân để thực hiện các phƣơng pháp làm việc khoa học. Giai đoạn 1930-1965 Theo Bruce E Kaufman, từ khi xuất hiện giữa thập niên 1910 đến cuối những năm 1920, các chức năng quản lý nguồn nhân lực mới đã có những bƣớc tiến đáng kể và phát triển tƣơng đối thuận lợi. Tuy nhiên, 10 năm tiếp theo sau đó uy tín và tầm ảnh hƣởng của quản lý nguồn nhân lực đã bị xuống giá thảm hại mà nguyên nhân do Đại khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 1929 và các nền kinh tế đi xuống cho đến cuối năm 1933.
Tại Mỹ, tổng sản phẩm quốc nội đã giảm xuống 30% và ¼ tổng lực lƣợng lao động mất việc làm, nền kinh tế các nƣớc khác cũng gặp các vấn đề tƣơng tự. Tại Anh thì suy thoái chậm hơn một thời gian so với các nƣớc khác. Do khủng hoảng kinh tế các công ty không còn cách nào khác buộc phải cắt giảm và tiết kiệm tối đa chi phí. Thuật ngữ hợp lý hóa là từ đƣợc sử dụng phổ biến ở hai bờ đại dƣơng.
Nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng, chính quyền tổng thống Roosevelt đã đề ra hàng loạt chính sách kích thích kinh tế vào những năm 1930 bằng chính sách 8 (LUAN.dien TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dien Luật tiêu chuẩn đảm bảo Xã hội (1930), Bảo hiểm Xã hội (1935), mức lƣơng tối thiểu và qui định tiền lƣơng làm vƣợt giờ, điều kiện kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động trong nhiều ngành sản xuất (1936), Tiêu chuẩn an toàn lao động (1938). Chính phủ khuyến khích ngƣời lao động tham gia vào các công đoàn hợp nhất, và thúc đẩy chi tiêu công cộng. Chính phủ cũng can thiệp vào mối quan hệ lao động giữa ngƣời lao động và ngƣời thuê lao động. Chính sự khuyến khích này hàng triệu ngƣời lao động đã tham gia vào các nghiệp đoàn.
Trong khoảng thời gian 5 năm, số lƣợng các nghiệp đoàn đã tăng lên gấp đôi tại Hoa Kỳ. Do có sự phát triển của các nghiệp đoàn nên việc ngƣời sử dụng lao động đơn phƣơng thƣơng lƣợng các vấn đề liên quan đến lƣơng bổng, điều kiện và thủ tục việc làm đƣợc thay thế bằng các thỏa ƣớc lao động tập thể (thƣơng lƣợng tập thể) - collective bargaining. Về mặt tích cực, sự lây lan nhanh chóng của thƣơng lƣợng tập thể mang lại lợi thế đối với quản lý nguồn nhân lực trong một số cách. Đơn cử, trong một nỗ lực nhằm tránh ngƣời lao động tham gia vào các tổ chức công đoàn, nhiều công ty đã thành lập và củng cố lại các chƣơng trình quản lý nhân sự của mình.
Ngoài ra, một số các công ty đã tham gia nghiệp đoàn mà mình cần, họ cần thêm nhân sự và nhân viên chuyên trách quan hệ lao động để tiến hành các cuộc đàm phán tập thể với công đoàn và quản lý hợp đồng lao động. Và, cuối cùng, các nghiệp đoàn đã thúc đẩy cho việc chuẩn hóa tiền lƣơng, hệ thống công việc, hệ thống khiếu nại chính thức, và xây dựng các văn bản qui định liên quan đến việc làm, tất cả những việc này do nhân viên và nhân viên chuyên trách quan hệ nhân sự phụ trách phát triển và quản lý. Trong thập niên 1920, ngay cả các công ty có quy mô lớn vẫn chƣa có bất kỳ tổ chức quản lý nguồn nhân lực đƣợc tổ chức bài bản, đến giữa những năm 1950 gần nhƣ tất cả các công ty có quy mô vừa và nhỏ đều có một bộ phận chuyên trách về nhân sự. Hơn nữa, những bộ phận này đƣợc bố trí thêm nhân viên, có thêm nhiều nhiệm vụ mới, và đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong công ty.
Cũng theo Jacoby (2003), những năm 1950 là thời đại hoàng kim của “ngƣời chuyên trách công tác tổ chức nhân sự - Organization man”, họ là biểu tƣợng của các tập đoàn khổng lồ chẳng hạn nhƣ General Motors, IBM, và Sears Roebuck, và xếp hạng nhất 9 (LUAN.dien TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dien trong đội ngũ quản lý hạng trung, các nhân viên kỹ thuật và nhân viên.