Chương 1 giới thiệu ý nghĩa khoa học và những tồn tại của chuỗi ngành hàng ớt dẫn đến sự cần thiết phải thực hiện nghiên cứu; Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của nghiên cứu và cấu trúc luận án. Chương 2: Lược khảo tổng quan tài liệu. Chương này tập trung lược khảo tổng quan phương pháp tiếp cận CGT, những kết quả nghiên cứu về CGT và mục đích nghiên cứu CGT cũng như các chiến lược nâng cấp CGT nông sản, những nghiên cứu về phân tích hiệu quả sản xuất ớt trong và ngoài nước để xác định khung nghiên cứu của luận án. Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3 bao gồm chi tiết các khái niệm về CGT đã được đề cập trong khung nghiên cứu; Các phương pháp tiếp cận, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Nội dung chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu theo các mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích yêu cầu thị trường, đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến và phân tích HQSX ớt, các yếu tố ảnh hưởng đến HQSX, phân tích CGT ớt vùng ĐBSCL và đề xuất các chiến lược nâng cấp CGT ớt vùng ĐBSCL. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị.
Chương này trình bày tóm tắt kết quả thực hiện nghiên cứu và những tồn tại; một số hàm ý quản trị có thể vận dụng vào thực tế để nâng cấp CGT ớt ở các tỉnh trồng ớt vùng ĐBSCL. *** 8 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chương 2 trình bày các lược khảo tổng quan về phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị, các nghiên cứu về chuỗi giá trị ớt và mục đích nghiên cứu chuỗi giá trị, chiến lược và giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị, hiệu quả sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, đánh giá tổng quan tài liệu và khung nghiên cứu.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CHUỖI GIÁ TRỊ 2.1 Định nghĩa chuỗi giá trị CGT có thể được định nghĩa theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng: - CGT theo nghĩa hẹp là một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể bao gồm từ giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.Tất cả những hoạt động này trở thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động sẽ làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng.
Nói cách khác, CGT theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động trong cùng một tổ chức hay một công ty theo khung phân tích của Porter (1985). - Theo nghĩa rộng, CGT là một tập hợp những hoạt động do nhiều tác nhân khác nhau tham gia thực hiện (nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế biến, công ty, người bán sỉ, người bán lẻ.) để sản xuất ra một sản phẩm, sau đó bán cho người tiêu dùng trong nước và người tiêu dùng nước ngoài thông qua hoạt động xuất khẩu (phương pháp tiếp cận toàn cầu của GTZ, 2007). Nói cách khác, CGT theo nghĩa rộng là một chuỗi các quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra; một sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối từ người sản xuất, nhóm sản xuất, DN và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể; và là một mô hình kinh tế trong đó kết nối việc lựa chọn sản phẩm và công nghệ thích hợp với cách thức tổ chức các tác nhân liên quan để tiếp cận thị trường.2 Phương pháp luận trong cách tiếp cận chuỗi giá trị Có nhiều định nghĩa khác nhau về cách tiếp cận CGT nhưng nhìn chung CGT có ba cách tiếp cận chính đó là phương pháp Filière (phương pháp chuỗi), khung phân tích của Porter và cách tiếp cận toàn cầu. 9 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh 2.1 Khung phân tích của Porter Cách tiếp cận thứ hai có liên quan đến công trình của Michael Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh.
Michael Porter đã dùng khung phân tích CGT để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh khác (cách tiếp cận CGT theo nghĩa hẹp). Trong đó, ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một DN được Ông tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí). Hoặc, làm thế nào để một DN có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt). Trong bối cảnh này, khái niệm CGT được sử dụng như một khung khái niệm mà các DN có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình.
Đặc biệt, Porter còn lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể. Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) ở các hoạt động đó. Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm cho giá trị sản xuất hàng hoá (dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm (Hình 2. CGT nhà CGT CGT cung cấp thị trường tiêu dùng CGT của công ty Hình 2.1: Khung phân tích chuỗi giá trị của Porter Nguồn: Michael Porter, 1985 Trong khung phân tích của Porter, khái niệm CGT không trùng với ý tưởng về chuyển đổi vật chất.
Porter giới thiệu ý tưởng, theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến qui trình sản xuất. Tính cạnh tranh của DN có thể phân tích bằng cách xem xét CGT bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần (bên trong và bên ngoài), tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ (lập chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu…). Do vậy, trong khung phân tích của Porter, 10 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh khái niệm CGT chỉ áp dụng trong kinh doanh. Phân tích CGT chủ yếu nhằm hỗ trợ các hoạt động quản lý, điều hành đưa ra các quyết định mang tính chiến lược của một tổ chức, một công ty.2 Phương pháp Filière (chuỗi, mạch) Phương pháp Filière được Kaplinsky (1999) đề cập bao gồm nhiều trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau.
Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp. Phân tích chuỗi, chủ yếu là làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (cao su, bông, cà phê, dừa, lúa gạo và rau màu) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang phát triển. Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách thức các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng. Do đó, khái niệm chuỗi (Filière) được nhận thức chủ yếu bằng kinh nghiệm thực tế và được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào các hoạt động.
Tính hợp lý của chuỗi cũng tương tự như khái niệm rộng về CGT (đã trình bày ở trên). Tuy nhiên, khái niệm chuỗi chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi thông qua những người tham gia chuỗi (Hình 2. Nhà Nhà Nhà Nhà Người cung ứng sản xuất chế biến phân tiêu đầu vào phối dùng Hình 2.2: Khái niệm chuỗi theo phương pháp Filière Nguồn: Kaplinsky, 1999 Phương pháp chuỗi (Filière) có hai lĩnh vực và có một số điểm chung với các tiếp cận khác. Thứ nhất, việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi hàng hóa và phân biệt các khoản chi phí, thu nhập giữa kinh doanh nội địa và quốc tế nhằm phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào tổng thu nhập quốc nội (GDP).
Thứ hai, phân tích chú trọng vào chiến lược của phương pháp chuỗi được sử dụng nhiều nhất ở trường Đại học Paris – Nanterre, một số viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu và Phát triển của Pháp (CIRAD), các tổ chức phi chính phủ như IRAM (về phát triển nông nghiệp), nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi; các 11 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh chiến lược cá nhân và tập thể cũng như các hình thái qui định mà Hugon (1985) đã xác định là có bốn loại liên quan đến chuỗi hàng hóa ở Châu Phi được phân tích gồm qui định trong nước, qui định về thị trường, qui định của nhà nước và qui định kinh doanh nông nghiệp quốc tế. Tương tự, Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng hóa (lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, vấn đề chuyên môn hóa của nông dân, thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa).3 Mô hình SIPOC Ngoài những mô hình tiếp cận chuỗi giá trị còn có mô hình SIPOS là chữ viết tắt của Supplier – Input – Process – Output – Customer (Nhà cung cấp – Đầu vào – Quy trình – Đầu ra – Khách hàng) dùng để mô tả mối quan hệ giữa nhà cung cấp, đầu vào, quy trình, đầu ra, khách hàng. Mục đích của việc phân tích mô hình SIPOC cải tiến quy trình dựa trên biểu diễn sơ đồ của các yếu tố chính của một quá trình từ nhà cung cấp đến khách hàng nhằm giảm lãng phí và đảm bảo thời gian giao hàng. Sơ đồ SIPOC được thể hiện ở Hình 2.
Nhà Đầu vào Quy trình Đầu ra Khách cung cấp (Input) (Process) (Output) hàng (Supplier) (Customer) Gồm những Yêu cầu đầu Đầu ra mong Ai là khách nhà cung cấp vào là gì? đợi cái gì hàng nào Quy trình gì?