Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc cả ở phạm vi quốc tế.
điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho người dân, nâng cao vị thế đất nước. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có thể hiểu là một hiện tượng kinh tế khách quan, một quy luật kinh tế, một phạm trù kinh tế hay một động lực của các hoạt động kinh tế. Mỗi thời kỳ khác nhau của nền kinh tế xã hội, khái niệm cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày với nhiều góc độ khác nhau.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu thì khái niệm cạnh tranh, nội dung và phạm vi của cạnh tranh cũng mang nhiều nét mới. Trong nền sản xuất hàng hoá, các chủ sở hữu khác nhau tồn tại với tư cách là những đơn vị kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, do đó họ không thể không cạnh tranh với nhau. Mặt khác, do điều kiện sản xuất của mỗi chủ thể kinh tế khác nhau về trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, trình độ nghề nghiệp, vốn, trình độ quản lý, điều kiện nguyên, nhiên vật liệu, môi trường sản xuất, kinh doanh, nên chất lượng hàng hóa, chi phí sản xuất khác nhau, làm cho kết quả sản xuất, kinh doanh giữa họ không giống nhau: có người thu lợi nhuận nhiều, có người thu lợi nhuận ít, có người thua thiệt, mất vốn, phá sản. Để dành lấy những điều kiện thuận lợi, tránh được những rủi ro, bất lợi trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, tất yếu giữa họ có sự cạnh tranh với nhau.
9 Theo quan điểm của K.Mark, cạnh tranh là sự ganh đua, sự đất tranh gay gắt giữa những người sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm dành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, để thu lợi nhuận cao nhất. Theo Micheal Porter thì, cạnh tranh là dành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sau dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Theo Từ điển Thuật ngữ kinh tế học cạnh tranh là, sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai hay nhiều bên cố gắng dành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể dành được để đối phó và đánh bại các đối thủ của mình trong sản xuất, kinh doanh. Theo Từ điển kinh doanh xuất bản năm 1992 ở Anh cạnh tranh là sự dành được, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm dành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Hiện nay, với sự hoạt động của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, khái niệm cạnh tranh có thay đổi đi nhưng về bản chất nó không thay đổi. Bản chất cạnh tranh rút ra từ những quan niệm đã nêu là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt được mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội. 10 Từ những định nghĩa trên, có thể thấy về cơ bản: Cạnh tranh là quá trình mà chủ thể tìm mọi biện pháp để vượt lên so với đối thủ về một lĩnh vực nhất định, đồng thời tạo ra sự nổi trội của chủ thể so với đối thủ.
Đây là quá trình sáng tạo, đổi mới có tính chất toàn diện nhằm phục vụ khách hàng một các tốt nhất và ứng phó với những thay đổi ngày càng đi lên của nền kinh tế thị trường nhiều biến động. Năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh đã và đang là chủ đề được bàn luận nhiều ở cả các nước phát triển và đang phát triển vì tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế trong một thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập. Mặc dù các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng, nhưng lại có những nhận thức khác nhau về khái niệm năng lực cạnh tranh.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm năng lực cạnh tranh trên thế giới và ở Việt Nam. Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đến lần đầu tiên tại Mỹ năm 1990. Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp.
Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra khái niệm: đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác. Quan niệm trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998). Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế): Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là 11 khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của doanh nghiệp. Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ và Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) đồng quan niệm cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Như vậy, năng lực canh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước dành thắng lợi (kể cả dành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao. Theo tác giả Phạm Thu Hương (2017), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.
Khái quát những quan niệm khác nhau có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh là thể hiện thực lực và lợi thế của chủ thể kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Năng lực cạnh tranh phải so với đối thủ cạnh tranh cụ thể, sản phẩm hàng hóa cụ thể trên cùng thị trường và cùng thời gian. Khái niệm này cần kết hợp chú ý: Quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ; Năng lực cạnh tranh cần thể 12 hiện khả năng tranh đua, tranh giành của các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới; Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thức hiện đại. Các cấp độ năng lực cạnh tranh - Năng lực cạnh tranh quốc gia Năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một thể chế kinh tế chung.
Nó tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh và công bằng, đảm bảo phân bố hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. Thể chế kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh và các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ. Ngược lại, sự dịch chuyển cơ cấu ngành theo hướng ngày càng có hiệu quả hơn, tốc độ tăng trưởng, sự phồn thịnh kinh tế lại phụ thuộc vào sự phát triển năng động của doanh nghiệp. Qua sự phân tích trên có thể đưa đến một kết luận là: Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là việc xây dựng một thể chế kinh tế chung, nó tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và hiệu quả.