Chương 1: Những cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay mua ô tô tại Ngân hàng Thương Mại Kỹ thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay mua ô tô tại Ngân hàng Thương Mại Kỹ thương Việt Nam. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ngân hàng thương mại: Theo Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12) được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010: “2.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng đượcthực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Tín dụng Ngân hàng thương mại: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng việc cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho Khách Hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Bản chất và vai trò của tín dụng Ngân hàng Thương mại Về bản chất, tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua quá trình vận động của vốn tín dụng. 4 Bên cạnh đó, tín dụng cũng là một công cụ của Ngân hàng thương mại, giúp Ngân hàng thương mại thực hiện một trong các chức năng quan trọng nhất của mình là trung gian tài chính, vận hành vốn trong nền kinh tế, từ nơi dư thừa vốn sang nơi thiếu vốn, từ đó thúc đẩy nguồn vốn luân chuyển trong nền kinh tế. Như vậy, yếu tố tất yếu trong việc tồn tại, hình thành và sử dụng nguồn vốn cho vay xuất phát từ sự cần thiết khách quan trong việc: - Giải quyết mâu thuẫn giữa việc tạo lập thường xuyên một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sử dụng ngân sách quốc gia và ngân sách gia đình với việc sử dụng nguồn vốn đó một cách tối ưu để phục vụ sản xuất kinh doanh. - Đảm bảo quá trình luân chuyển vốn một cách liên tục trong điều kiện nền kinh tế vận hàng trên cơ sở hoạt động của nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành với chu kỳ luân chuyển vốn khác nhau.
- Đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và nền kinh tế. Về phương diện kinh tế và nguồn gốc hình thanh tư bản cho vay thì nguồn vốn của Ngân hàng thương mại chính là nguồn vốn thuộc sở hữu của Nhà nước, sở hữu của Doanh nghiệp và dân cư. Trong chừng mực nào đó, chúng ta có thể nhìn nhận rằng người cho vay đầu tiên chính là các chủ sở hữu nguồn vốn vay của Ngân hàng thương mại chính là doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt. Ở đây Ngân hàng thương mại hoạt đồng như là cầu nối của thị trường vốn.
Trong mối quan hệ này, NHTM là con nợ của doanh nghiệp hoặc cá nhân có tiền nhàn rỗi gửi tại NHTM, đồng thời NHTM cũng là chủ nợ của các doanh nghiệp hoặc cá nhân có nhận vay vốn tại Ngân hàng do thiếu hụt về vốn. Như vậy, bản chất của tín dụng Ngân hàng được thể hiện đầy đủ khi tín dụng Ngân hàng thực hiện các chức năng cơ bản: - Chức năng dịch chuyển nguồn vốn: Huy động vốn và cho vay vốn tiền tệ trên nguyên tắc hoàn trả có lãi, đưa nguồn vốn trong nền kinh tế từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt. - Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Hoạt động của ngân 5 hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế trong xã hội. Mặt khác quá trình đầu tư tín dụng được thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các xí nghiệp lớn, những xí nghiệp được thẩm định là kinh doanh có hiệu quả.
- Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn. Ví dụ trong thời gian tập trung ưu tiên cho xuất khẩu, Nhà nước đã tập trung tín dụng để tài trợ phát triển các ngành có khả năng xuất khẩu cao như: áp dụng các chính sách tín dụng đầu tư (cho vay đầu tư và hỗ trợ sau đầu tư) và chính sách tín dụng xuất khẩu (cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu nước ngoài vay) đối với các dự án đầu tư, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu hàng hóa do Việt Nam sản xuất. - Chức năng kiểm soát các hoạt động kinh tế, thông qua các quan hệ tín dụng đối với của các chủ thể của nền kinh tế. - Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài: Tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau trong điều kiện nền kinh tế ngày càng hội nhập.
Về bản chất kinh tế của thị trường vốn, hoạt động tín dụng chứa ẩn nhiều yếu tố rủi ro đối với không những Ngân hàng mà còn đối với chủ nợ của Ngân hàng Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng, do Ngân hàng sẽ đóng vai trò là nơi phân phối vốn từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt, vì vậy, Ngân hàng sẽ phải là cả 2 vai trong tín dụng, đó là: Đi vay và cho vay. Trong đó, hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi các loại chi phí như: chi phí tiền gửi, chi phí dữ trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung dài hạn.
Và một trong những loại hình 6 cho vay trung dài hạn nổi bật hiện nay là cho vay mua nhà và vay mua ô tô. Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi một ngân hàng được thành lập và đi vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là cho ai vay, và đầu tư vào đâu. Ở những nước này, đối tượng cho vay là điều làm bận tâm nhiều hơn, nếu không nói là vấn đề quan trọng nhất. Nếu như nhà cửa là bất động sản thì ô tô lại là động sản, luôn chiếm nhiều rủi ro cao khi ngân hàng chỉ giữ giấy tờ xe để làm tài sản đảm bảo, còn tài sản thực sự là chiếc xe ô tô sẽ vẫn do khách hàng sử dụng và quản lý.
Trong khi đó ở các nước phát triển thì tình hình lại ngược lại. Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng không phải vấn đề cho ai vay hay đối tượng vay là gì, mà lợi tức có cao không và an toàn không. Thậm chí những lo ngại đại loại như vậy thực tế đã không còn vì hầu hết họ đã có những thị phần chắc chắn và vấn đề an toàn của vốn đã có pháp luật bảo đảm. Điều họ quan tâm là làm sao huy động được ngày càng nhiều tiền cho các khoản đầu tư có sẵn.
Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trường kinh tế. Đặc biệt là với loại hình cho vay mua ô tô luôn chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn. Để hiểu nó, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc trưng quan trọng của nó. Định nghĩa chung về hoạt động cho vay Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/06/2010 thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Như vậy, cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên người cho vay (Ngân hàng thương mại), còn bên kia là người đi vay (khách hàng vay vốn). Đồng thời, ở đây chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào.Cũng vì có sự xen lẫn đó, cho nên sự bất trắc, rủi do hoàn toàn có thể xảy ra mà không ai có thể chắc chắn, tất cả chỉ là dựa trên sự dự đoán chủ quan qua việc phân tích các yếu tố khách quan. Do 7 đó cần có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng. Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình.
Cho vay mua ô tô là cũng là một trong các hình thức của hoạt động cho vay của Ngân hàng. Cụ thể, vay mua ô tô đối được phân vào nhóm cho vay tiêu dùng theo quy định của nước ta. Dựa vào Khoản 1, Điều 3, Thông tư số 43/2016/TT- NHNN ban hành ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về Quy định cho vay tiêu dùng thì: Cho vay tiêu dùng là việc cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua sắm, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng đó. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn hỗ trợ khách hàng vay mua ô tô phục vụ cho sản xuất kinh doanh của họ.
Ngân hàng sẽ tiếp cận được với lượng khách hàng lớn hơn, cũng như khách hàng có thêm nhiều lựa chọn khi sử dụng dịch vụ của Ngân hàng.