CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lịch sự trong hội thoại 1. Sơ lược về thuật ngữ “lịch sự” Theo Vũ Thị Thanh Hương [14, tr.149] trên thế giới, trong các công trình nghiên cứu về lịch sự, hiện nay có 2 cách tiếp cận khá rõ ràng: Cách tiếp cận chiến lược và cách tiếp cận chuẩn mực. Cách tiếp cận chiến lược thể hiện qua mô hình lý thuyết về lịch sự, thường được tuyên bố là phổ niệm, của Lakoff (1973), Brown&Levinson (viết tắt là B&L) (1978) và Leech (1983).
Mặc dù có sự khác nhau về phương pháp nhưng các tác giả trên đây đều thống nhất cho rằng lịch sự là chiến lược hay phương tiện tránh đụng độ trong giao tiếp. Quan niệm này được trình bày rõ ràng nhất trong mô hình lý thuyết về lịch sử của B&L. Toàn bộ lí thuyết của B&L dựa trên giả định cơ bản cho rằng hoạt động giao tiếp của con người là có lí trí và có mục đích và con người được xã hội ban tặng cùng với lí trí là thể diện như là sự thống nhất của hai loại mong muốn: Thể diện tiêu cực là mong muốn được người khác tôn trọng sự riêng tư cá nhân, quyền tự chủ, tức là quyền tự do hành động và từ chối, thể diện tích cực là mong muốn hình ảnh cái tôi của mình được người khác xác nhận, bênh vực, ủng hộ. Các ý muốn thể hiện rất dễ bị tổn thương trong hoạt động giao tiếp, vì thế bất kỳ một hành vi ngôn ngữ nào liên quan đến bình diện quan hệ có hàm chứa sự đe dọa thể diện cũng đều tiềm ẩn sự cần thiết phải được điều chỉnh ở những mức độ nhất định bởi sự đầu tư về lịch sự.
Như vậy, lịch sự theo B&L, là một chiến lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức độ “mất thể diện” đã hoặc sẽ xảy ra trong hoạt động giao tiếp của con người. Cùng với việc liệt kê các hành động (bằng lời nói và không bằng lời) đe dọa thể diện, các tác giả đã đề xuất một danh mục phong phú các chiến lược và tiểu chiến lược lịch sự được coi là phổ quát để đối phó, trong đó có 8 các chiến lược cơ bản là: Lịch sự tích cực là hành vi sửa đổi hướng đến thể diện tiêu cực; gián tiếp là hành vi sửa đổi bằng cách tránh bộc lộ trực tiếp lực ngôn trung của lời nói. Việc sử dụng các chiến lược lịch sự phổ quát này, theo tình huống và văn hóa là tương quan về quyền và khoảng cách xã hội giữa người nói và người nghe, và mức độ áp đặt tuyệt đối của các hành vi đe dọa thể diện trong các nền văn hóa cụ thể. Tuy nhiên, mô hình lịch sự của B&L bị phê phán và phản bác từ phía các nhà nghiên cứu về lịch sự theo quan điểm chuẩn mực xã hội dựa trên các cứ liệu văn hóa ngôn từ của các xã hội Tây Âu.
Sự phê phán tập trung chủ yếu vào các tuyên bố của B&L về tính phổ niệm của lịch sử là quan niệm coi lịch sự thuần túy chỉ là chiến lược giao tiếp cá nhân mà bỏ qua mặt chuẩn mực xã hội của nó. Khái niệm thể diện và lịch sự của B&L nhấn mạnh đến mong muốn đạt tính tự chủ và riêng tư, bắt nguồn từ sự đánh giá cao chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa phương Tây, không phản ánh đúng quan niệm về thể diện và lịch sự trong các xã hội phương Đông nơi mà trong hoạt động giao tiếp người ta quan tâm đến việc giữ gìn tính cộng đồng, tương quan vị thế, bổn phận hơn là các ý muốn về tự do cá nhân hay về cái tôi. Vì vậy, ứng xử lịch sự không phải hệ quả của tính toán cá nhân mà là của áp lực chuẩn mực xã hội lên hành vi cá nhân. Thực ra, cần phải nghiên cứu lịch sự như là sự thống nhất của 2 bình diện: Lịch sự chiến lược và lịch sự chuẩn mực.
Trong việc sử dụng ngôn ngữ, lịch sự cũng là một quy tắc, nó có tên gọi là quy tắc chi phối quan hệ liên nhân, quan hệ giữa những người cùng tham gia giao tiếp. Về mặt lí thuyết đã có khá nhiều định nghĩa được đưa ra chung quanh thuật ngữ “lịch sự”. - Theo Thomas, “… phép lịch sự được xem là một (hay một loạt chiến lược) được người nói dùng đề hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa.256] 9 - Theo Lakoff “Có thể định nghĩa lịch sự như là một phương thức đề giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn (…). Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi” [3, tr.256] Cụ thể, phép lịch sự có chức năng: “Gìn giữ sự cân bằng xã hội và quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta có thể tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta.256] “Phép lịch sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác của mình.280] Ở Việt Nam, quan niệm về lịch sự gắn với chuẩn mực xã hội hơn là chiến lược giao tiếp cá nhân.
Gắn với mục đích tôn trọng chuẩn mực, thường đồng nhất lịch sự với lễ độ mà nội dung cơ bản của nó là lễ phép, đúng mực, khiêm nhường. Trong giao tiếp bằng lời, phép lịch sự này biểu hiện rõ nhất ở việc tuân theo các quy tắc ứng xử có tính chuẩn mực cao khi xưng hô, chào hỏi, đáp lễ, cám ơn, xin lỗi. Gắn với mục đích nâng cao hiệu quả giao tiếp, thường đồng nhất lịch sự với sự khéo léo và tế nhị, nghĩa là cùng một mục đích giao tiếp phải biết chọn cách nói thích hợp, có khả năng làm vừa lòng người nghe nhất, đặc biệt là khi phê phán, từ chối, cầu khiến, phủ định, khẳng định. Về mặt thuật ngữ, các ý kiến này cho rằng có thể dùng từ lịch sự (phép lịch sự) để chỉ chung cho cả hai bình diện, và phân biệt bình diện thứ nhất là lịch sự tối thiểu hay lịch sự lễ độ với bình diện thứ hai là lịch sự xã giao hay lịch sự chiến lược.
Trái với cách hiểu rộng trên đây về lịch sự , một số ý kiến khác lại cho rằng cần phân biệt lịch sự như là một phong cách xã giao có nội dung cơ bản là khéo léo, tế nhị, với lễ độ là chuẩn mực ứng xử theo quy tắc lễ phép, đúng mực. Theo họ, khái niệm lịch sự chỉ thích hợp với bình diện thứ hai (chiến lược), còn với bình diện thứ nhất (chuẩn mực) chính xác hơn nên gọi là lễ độ hay lễ phép. Do đó, một hành động ứng xử tôn kính ở trong gia đình hoặc của trẻ em thay vì gọi là lịch sự thì nên gọi theo cách truyền thống là lễ độ hay lễ phép. Như vậy, tương ứng với hai cách hiểu trên đây chúng ta 10 có hai cách xác định rộng hẹp khác nhau về khái niệm lịch sự trong tiếng Việt.
Trong luận văn này, khái niệm lịch sự được xác định theo nghĩa rộng, bao gồm cả lịch sự lễ độ và lịch sự chiến lược. Trong đó lịch sự lễ độ được hiểu là hành động ứng xử ngôn ngữ phù hợp với những chuẩn mực giao tiếp xã hội nhằm mục đích tôn trọng các phẩm chất xã hội (thứ bậc, địa vị, tuổi tác,…) của người đối thoại mà nội dung cơ bản của nó là lễ phép, đúng mực, khiêm nhường. Lịch sự chiến lược là cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo, tế nhị nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối thoại để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất. Trong giao tiếp, người Việt rất đề cao phép lịch sự lễ độ, coi đó như một biểu hiện tối thiểu của trình độ văn hoá mà chủ yếu là của đạo đức và nhân cách, vì vậy sự vi phạm các quy tắc, chuẩn mực lịch sự này thường bị đánh giá tiêu cực về mặt nhân cách, đạo đức.
Khác với lịch sự lễ độ, lịch sự chiến lược ở một cấp cao hơn của văn hóa ứng xử, không phải dễ dàng học hỏi và vận dụng. Nó gắn với kinh nghiệm sống, vốn văn hóa, sự hiểu biết tâm lí và khả năng sử dụng ngôn từ hơn là với đạo đức nhân cách. Vì vậy, sự vi phạm lịch sự chiến lược không bị đánh giá nặng nề về mặt đạo đức, hay nhân cách mà chủ yếu về kinh nghiệm nói năng và tính văn hóa của ứng xử. Do tầm quan trọng và tính chuẩn mực cao của nó, phép lịch sự lễ độ thường được chú ý trong giáo dục ứng xử ở gia đình và nhà trường, còn phép lịch sự chiến lược được tiếp thu chủ yếu thông qua hoạt động giao tiếp ngoài xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay theo yêu cầu xã hội hóa ngày càng cao, lịch sự chiến lược được đặc biệt chú ý và được đưa vào nhà trường giảng dạy cùng với phép lịch sự lễ độ. Các phương châm lịch sự Để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp thì những người tham gia giao tiếp cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đó là 11 nguyên tắc “giảm tới mức tối thiểu những cách nói không lịch sự và tăng tới mức tối đa những cách nói lịch sự”.260] Để thực hiện được nguyên tắc đó, người nói cần đảm bảo sự cân bằng trong quan hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe bằng việc điều chỉnh mức lợi - thiệt để có được một phát ngôn lịch sự. Các nguyên tắc trên được hình thành dựa vào bốn phương châm hội thoại của P.Grice (phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức), và đã được G.Leech cụ thể hóa thành sáu phương châm lịch sự như sau: < 1> Phương châm khéo léo: - Giảm tối thiểu những điều thiệt cho người.
- Tăng tối đa những điều lợi cho người. < 2> Phương châm hào hiệp (rộng rãi): - Giảm tối thiểu những điều lợi cho ta. - Tăng tối đa những điều thiệt cho ta. <3> Phương châm tán thưởng: - Giảm tối thiểu những lời chê đối với người.
- Tăng tối đa những lời khen cho người. <4> Phương châm khiêm tốn: - Giảm tối thiểu việc khen ta. - Tăng tối đa việc chê ta. <5> Phương châm tán đồng: - Giảm tối thiểu sự bất đồng giữa ta và người.
- Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người. <6> Phương châm cảm thông (thiện cảm): - Giảm tối thiểu ác cảm giữa ta và người. - Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người.