Chương 1: Cơ sở lý luận về việc hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp o Chương 2: Phân tích môi trường kinh doanh của Oversea Courier Service tại Việt Nam o Chương 3: Hoạch định chiến lược kinh doanh cho tập đoàn Oversea Courier Service tại Việt Nam đến năm 2020. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về chiến lƣợc kinh doanh Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt được những mục tiêu. Chiến lược chỉ tạo ra các khung để hướng dẫn tư duy hành động. “Chiến lược là một tập hợp của các chuổi họat động được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh bền vững” (theo McKinsey (1978)).
“Chiến lược kinh doanh là chiến lược cạnh tranh (chiến lược định vị), là công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế chiến lược nhằm đạt đến mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp” (theo Alan Rose). Chiến lược kinh doanh là quá trình phối hợp và sử dụng hợp lý nguồn lực trong thị trường xác định, nhằm khai thác cơ hội kinh doanh tạo ra lợi thế cạnh tranh để tạo ra sự phát triển ổn định và bền vững cho doanh nghiệp. Hoạch định chiến lược là việc lựa chọn làm sao để doanh nghiệp trở nên độc đáo và phát triển hiệu quả lợi thế cạnh tranh (theo Michael Porter). Hoạch định chiến lược là điều kiện cần, là giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình quản lý chiến lược bởi ba lý do sau: Thứ nhất, hoạch định là quá trình xác định các mục tiêu dựa trên sự phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường cũng như thực trạng của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp và các công cụ cụ thể để đạt được những mục tiêu đề ra.
Thứ hai, hoạch định là căn cứ để đánh giá quá trình tổ chức thực hiện để biết việc tổ chức thực thi diễn ra như thế nào, so sánh kết quả đạt được với mục tiêu nhằm bổ sung, điều chỉnh sai sót kịp thời. Thứ ba, chiến lược kinh doanh khẳng định sứ mệnh của doanh nghiệp, một chiến lược kinh doanh được hoạch định tốt, phù hợp và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, giải quyết đúng vấn đề đang đặt ra sẽ là cơ sở cho sự phát triển doanh nghiệp. Quá trình hoạch định chiến lược có thể chia thành năm bước chính, bao gồm: (1) Lựa chọn sứ mệnh và các mục tiêu chủ yếu của công ty; (2) Phân tích môi trường bên ngoài để nhận dạng các cơ hội và đe dọa; (3) Phân tích môi trường bên 5 trong để nhận dạng các điểm mạnh và yếu của tổ chức; (4) Lựa chọn các chiến lược trên cơ sở tìm kiếm các nguồn lực, khả năng và năng lực cốt lõi và phát triển nó để hóa giải các nguy cơ, tận dụng các cơ hội từ môi trường bên ngoài; (5) Thực thi chiến lược. Nhiệm vụ phân tích môi trường bên trong và bên ngoài công ty và sau đó lựa chọn chiến lược thường được coi là việc xây dựng chiến lược.
Thực thi chiến lược sẽ bao gồm thiết kế cấu trúc tổ chức và hệ thống kiểm soát thích hợp để đưa chiến lược vào thực hiện (2, trang 9 & 10). Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại, tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức. Đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định để đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại, tương lai nhằm tăng thế lực cho doanh nghiệp.2 Quy trình xây dựng chiến lƣợc Việc xây dựng chiến lược phải dựa trên cơ sở phân tích môi trường, nội bộ doanh nghiệp. Trên cơ sở đó xác định nhiệm vụ và mục tiêu, xây dựng và lựa chọn các chiến lược kinh doanh, cũng như đề ra các giải pháp kinh doanh và lộ trình thực hiện mục tiêu nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp.1: Bối cảnh hoạch định chiến lược cạnh tranh Điểm mạnh, Kết hợp Cơ hội, đe dọa điểm yếu của môi trường Các yếu tố Các yếu tố Chiến lược cạnh bên trong bên ngoài tranh Giá trị cá nhân Kết hợp Mong đợi của của nhà quản trị xã hội Nguồn: (3, trang 27) Việc hình thành chiến lược đòi hỏi phải tạo sự hài hòa và kết hợp các yếu tố tác động đến chiến lược sau: o Các cơ hội thuộc môi trường bên ngoài o Các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp o Giá trị cá nhân của nhà quản trị 6 o Những mong đợi bao quát về mặt xã hội của doanh nghiệp 1.1 Phân tích môi trƣờng Môi trường là những yếu tố, lực lượng, thể chế…nằm ngoài doanh nghiệp mà nhà quản trị không kiểm soát được, nhưng chúng lại ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Mục đích của việc phân tích môi trường có thể mang lại các cơ hội phát triển cho doanh nghiệp, nhận thức được các mối đe dọa mà doanh nghiệp nên tránh, từ đó doanh nghiệp sẽ chủ động hoặc có những biện pháp dự phòng bằng các chiến lược nhằm tận dụng các cơ hội bên ngoài, hạn chế đến mức thấp nhất các mối đe dọa. Môi trường của tổ chức có thể chia thành hai mức độ: môi trường vĩ mô, môi trường vi mô. Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh. Môi trường vi mô được xác định với một ngành công nghiệp cụ thể, với tất cả các doanh nghiệp trong ngành chịu ảnh hưởng cũa môi trường vi mô trong ngành đó (1, trang 37).1 Môi trƣờng vĩ mô Các nhà quản trị chiến lược của doanh nghiệp thường chọn các yếu tố sau của môi trường vĩ mô để nghiên cứu: môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, môi trường văn hóa, xã hội, dân số, môi trường tự nhiên và công nghệ.
Các yếu tố kinh tế Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các đơn vị kinh doanh thông qua: lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ, lạm phát, mức độ thất nghiệp, chính sách thuế quan… (1, trang 39). Những diễn biến của môi trường kinh tế vĩ mô bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội, đe dọa khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng sâu rộng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố chính phủ và chính trị Các yếu tố chính phủ và chính trị có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp, đồng thời hoạt động của chính phủ cũng có thể tạo ra cơ hội 7 hoặc nguy cơ. Nhìn chung, doanh nghiệp hoạt động được là vì điều kiện xã hội cho phép.
Chừng nào xã hội không còn chấp nhận các điều kiện và bối cảnh thực tế nhất định, thì xã hội sẽ rút lại sự cho phép đó bằng cách đòi hỏi chính phủ can thiệp bằng chế độ chính sách hoặc thông qua hệ thống pháp luật (1, trang 41). Yếu tố xã hội Tất cả doanh nghiệp phải phân tích một dải rộng những yếu tố xã hội để ấn định những cơ hội đe dọa tiềm tàng. Thay đổi một trong nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến một doanh nghiệp, những xu hướng doanh số, khuôn mẫu tiêu khiển, khuôn mẫu hành vi xã hội ảnh hưởng phẩm chất đời sống, cộng đồng kinh doanh. Những yếu tố xã hội này thường thay đổi hoặc tiến triển chậm chạp làm cho chúng đôi khi khó nhận ra, có rất ít doanh nghiệp có thể nhận ra những thái độ thay đổi ấy, tiên đoán những tác động của chúng và vạch chiến lược thích hợp (1, trang 41-42).
Những yếu tố tự nhiên Những doanh nghiệp kinh doanh từ lâu đã nhận ra những tác động của hoàn cảnh thiên nhiên vào quyết định kinh doanh của họ. Tuy nhiên những yếu tố này liên quan tới việc bảo vệ môi trường thiên nhiên đã gần như hoàn toàn bị bỏ quên cho tới gần đây. Sự quan tâm của những người quyết định kinh doanh ngày càng tăng vì công chúng quan tâm nhiều đến chất lượng môi trường thiên nhiên. Các nhóm quyền lợi của công chúng làm phát sinh nhiều vấn đề về yếu tố môi trường khiến chính phủ và công chúng phải chú ý tới.
Các vấn đề ô nhiễm môi trường, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến công chúng cũng như các nhà doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháp hoạt động liên quan (1, trang 42-43). Yếu tố công nghệ và kỹ thuật Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào lại không phụ thuộc vào cơ sở công nghệ ngày càng hiện đại. Sẽ còn có nhiều công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời, tạo ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối với tất cả các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp nhất định. Các doanh nghiệp cũng phải cảnh giác đối với các công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm của họ bị lạc hậu trực tiếp hoặc gián tiếp.
Các 8 doanh nghiệp đã đứng vững thường gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó thành công trước các giải pháp công nghệ mới được đưa vào áp dụng trong ngành kinh doanh của họ, nhất là trong giai đoạn bão hòa trong “chu kỳ sống” của sản phẩm. Tương tự, các doanh nghiệp lớn đã hoạt động lâu năm thường có khuynh hướng áp dụng các giải pháp công nghệ mới so với các doanh nghiệp đang ở giai đoạn phát triển ban đầu. Doanh nghiệp muốn tiếp tục đạt kết quả tốt hơn phải thay đổi công nghệ cũ bằng công nghệ mới phù hợp và kịp thời (1, trang 43-45).2 Môi trƣờng vi mô Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó. Có 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và sản phẩm thay thế (1, trang 48).2: Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael E.
Porter Đối thủ mới tiềm ẩn Nguy cơ các đối thủ cạnh tranh mới Đối thủ cạnh Khả năng tranh trong Khả năng thương lượng ngành thương lượng của người cung của người Người cấp mua Người mua cung cấp Sức ganh đua giữa các doanh nghiệp trong ngành Nguy cơ do các sản phẩm thay thế SP thay thế Nguồn: (3, trang 37) 9 Các yếu tố này có quan hệ với nhau, nên để đề ra được một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó.