Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng đào tạo tại các trƣờng Cao đẳng nghề Chương 2: Thực trạng chất lƣợng đào tạo nghề du lịch tại Trƣờng Cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng đào tạo tại Trƣờng cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TẠI CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về đào tạo và nâng cao chất lƣợng đào tạo 1. Một số khái niệm cơ bản về đào tạo và nâng cao chất lƣợng đào tạo 1.
Khái niệm về đào tạo Theo từ điển “Bách khoa toàn thƣ Việt Nam” thì đào tạo là quá trình tác động đến một con ngƣời nhằm làm cho ngƣời đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho ngƣời đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài ngƣời. Theo Trần Khánh Đức, 2004, đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành một cách có hệ thống các tri thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề có thể vào đời hành nghề, có năng suất và hiệu quả. Theo Lê Đức Ngọc, 2005, đào tạo đƣợc hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn. Theo Luật giáo dục nghề nghiệp, 2014 “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Bản chất của “đào tạo” là việc dạy các kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, với mục tiêu giúp ngƣời học lĩnh hội và nắm vững những tri thức một cách có hệ thống, tạo tiền 13 đề cho ngƣời học thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận đƣợc một công việc nhất định. Khái niệm đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục.
Thông thƣờng, đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một ngƣời đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo. Khái niệm về chất lượng đào tạo a) Khái niệm về chất lƣợng Chất lƣợng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con ngƣời thƣờng hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Việc phấn đấu nâng cao chất lƣợng đƣợc xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở tham gia hoạt động nào.
Vậy chất lƣợng là gì ? Thuật ngữ "chất lƣợng" có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và từ đó đƣa ra nhiều địnhh nghĩa khác nhau: Chất lƣợng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Giáo dục 1998). Hay: Chất lƣợng là "cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật" hoặc là "cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia" (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Khoa học xã hội, H.1987); Chất lƣợng là "sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định" (Theo Philip B. Grosby ngƣời Mỹ); Chất lƣợng là "tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của ngƣời sử dụng" (Tiêu chuẩn Pháp - NFX 50 - 109); Chất lƣợng là "tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thỏa mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn" (TCVN -ISO 8402 (1994).Chất lƣợng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo dục thƣờng xuyên. Chính vì vậy, trách nhiệm về giáo dục phụ thuộc 80% - 85% vào ban lãnh đạo.
14 Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm: “Chất lƣợng sẽ đƣợc đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trƣng phẩm chất đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền”. Đào tạo nguồn nhân lực sẽ đảm bảo nâng cao chất lƣợng nếu thực hiện tốt các yếu tố nhƣ: Đáp ứng yêu cầu của khách hàng, tập trung vào con ngƣời và mọi đóng góp xây dựng tổ chức của mình, có tầm nhìn dài hạn, quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả, có đổi mới, hữu hiệu, tổ chức tiếp thị tốt với thị trƣờng. Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về chất lƣợng. Mỗi định nghĩa đƣợc nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lƣợng.
Mặc dù vậy tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đƣa ra trong ISO 8402:1984: “chất lƣợng là một tập hợp các tính chất đặc trƣng của một thực thể, tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã đƣợc nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn”. Đây là định nghĩa có ƣu điểm nhất, nó đƣợc xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn; phản ánh đƣợc bản chất của sự vật và nội dung để so sánh sự vật này với sự vật khác. Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lƣợng: - Chất lƣợng đƣợc đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không đƣợc nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lƣợng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại.
Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lƣợng định ra chính sách, chiến lƣợc kinh doanh của mình. - Do chất lƣợng đƣợc đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lƣợng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. - Khi đánh giá chất lƣợng của một đối tƣợng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tƣợng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. 15 Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ nhƣ các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.
- Nhu cầu có thể đƣợc công bố rõ ràng dƣới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhƣng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, ngƣời sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện đƣợc trong chúng trong quá trình sử dụng. - Chất lƣợng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày. Chất lƣợng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình. Khái niệm chất lƣợng trên đây đƣợc gọi là chất lƣợng theo nghĩa hẹp.
Rõ ràng khi nói đến chất lƣợng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khi bán, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ. b) Khái niệm về chất lƣợng đào tạo Chất lƣợng luôn là vấn đề rất đƣợc quan tâm và việc phấn đấu nâng cao chất lƣợng đào tạo bao giờ cũng đƣợc xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo nói chung và cơ sở đào tạo nghề nói riêng. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “chất lƣợng đào tạo” dựa trên các “góc nhìn” khác nhau: Theo Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp (2005) - Đại học quốc gia Hà Nội thì chất lƣơ g đào tạo đƣợc đánh giá qua mức độ đạt đƣợc mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chƣơng trình đào tạo. Theo Trần Khánh Đức (2004) - viện nghiên cứu phát triển giáo dục cho rằng, chất lƣợng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo đƣợc phản ánh ở các đặc trƣng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của ngƣời tốt nghiệp tƣơng ứng với mục tiêu, chƣơng trình đào tạo 16 theo các ngành nghề cụ thể.
Do đó, việc nâng cao chất lƣợng đào tạo đƣợc xem là nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở đào tạo cao đẳng nói riêng. Có thể nói: “Chất lƣợng đào tạo phải đƣợc thể hiện trong mục tiêu đào tạo và đáp ứng càng nhiều ƣớc muốn của các bên liên quan càng tốt”. Các quan niệm về chất lƣợng đào tạo: - Chất lượng được đánh giá bằng "đầu vào" Một số nƣớc phƣơng tây có quan điểm cho rằng "Chất lƣợng đào tạo phụ thuộc vào chất lƣợng hay số lƣợng các yếu tố đầu vào của cơ sở đào tạo đó". Quan điểm này đƣợc gọi là "quan điểm nguồn lực" có nghĩa là: "Nguồn lực" = "Chất lƣợng".
Theo quan điểm này nếu một trƣờng tuyển đƣợc HSSV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có cơ sở vật chất tốt… thì đƣợc coi là trƣờng có chất lƣợng đào tạo tốt. Quan điểm này đã bỏ qua quá trình tổ chức, quản lý và đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một khoảng thời gian. Sẽ khó giải thích trƣờng hợp một trƣờng đã có nguồn lực "đầu vào" dồi dào nhƣng chất lƣợng đầu ra hạn chế hoặc ngƣợc lại. Theo cách đánh giá này, cho rằng dựa vào chất lƣợng nguồn lực đầu vào có thể đánh giá đƣợc chất lƣợng đầu ra.
- Chất lượng được đánh giá bằng "đầu ra" "Đầu ra" là kết quả, là sản phẩm của quá trình đào tạo đƣợc thể hiện bằng năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, sự thành thạo trong công việc hay khả năng cung cấp các dịch vụ của cơ sở đào tạo đó. Có quan điểm cho rằng "đầu ra" của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với "đầu vào".