Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện theo Quyết định số 567/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành xây dựng Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ trọng sử dụng vật liệu xây không nung lên 20% vào năm 2015 và đạt 43% vào năm 2020 nhằm từng bước thay thế gạch đất sét nung truyền thống. Quá trình sản xuất gạch nung hàng năm tiêu tốn hàng triệu mét khối đất sét nông nghiệp và hàng trăm nghìn tấn than đá, phát thải lượng lớn khí nhà kính gây biến đổi khí hậu nghiêm trọng. Nhằm cụ thể hóa chủ trương trên, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 2537/QĐ-UBND ngày 20/07/2015 về kế hoạch tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung và lộ trình xóa bỏ hoàn toàn các lò gạch thủ công.

Tuy nhiên, thực tế sản xuất tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam như Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Sản xuất Nguyên Tâm hay Doanh nghiệp Tâm Phúc Nguyên cho thấy nhiều dây chuyền thiết bị ngoại nhập khi vận hành gặp khó khăn do chưa làm chủ được công nghệ phối trộn nguyên liệu bản địa. Việc thiếu quy chuẩn kỹ thuật cấp phối dẫn đến tình trạng gạch thành phẩm có chất lượng không ổn định, điển hình như hiện tượng nứt tường, bong rộp lớp vữa trát tại một số công trình công cộng.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng Công trình Dân dụng và Công nghiệp thực hiện năm 2017 tập trung khảo sát, đánh giá toàn diện các chỉ tiêu cơ lý của cát sông Thu Bồn và đá mạt mỏ Phú Thọ. Mục tiêu trọng tâm là thiết kế thành phần cấp phối tối ưu để chế tạo thành công gạch bê tông không nung mác M7,5 đạt tiêu chuẩn TCVN 6477:2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp các nhà máy tận dụng 100% nguồn khoáng sản sẵn có tại địa phương, hạ giá thành xây dựng hơn 20% và cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho công tác quản lý chất lượng vật liệu xây dựng xanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết thủy hóa khoáng xi măng và nguyên lý hình thành cấu trúc tinh thể đá xi măng đóng rắn. Khi xi măng poóc lăng hỗn hợp PCB40 tiếp xúc với nước, các khoáng silicat canxi phản ứng sinh ra gel canxi silicat hydrat (C-S-H) và canxi hydroxit Ca(OH)2, tạo nên mạng lưới tinh thể liên kết các hạt cốt liệu. Tỷ lệ Nước/Xi măng (N/X) giữ vai trò quyết định: nếu tỷ lệ N/X quá thấp, lượng nước không đủ để thủy hóa hoàn toàn xi măng; ngược lại, nếu lượng nước dư thừa, quá trình bốc hơi tự do sẽ để lại các lỗ rỗng mao dẫn làm suy giảm cường độ chịu lực của vật liệu.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết thành phần hạt liên tục và cấu trúc chèn chặt của cốt liệu trong vữa và bê tông. Độ đặc chắc của khối xây phụ thuộc vào việc lấp đầy các khoảng rỗng giữa các hạt đá mạt lớn bằng các hạt cát mịn hơn, giúp giảm thiểu độ rỗng xuống mức thấp nhất và tiết kiệm lượng chất kết dính cần sử dụng. Các khái niệm nền tảng trong nghiên cứu bao gồm: gạch xi măng cốt liệu (gạch block), mô đun độ lớn (Mđl), khối lượng thể tích xốp, cường độ nén quy chuẩn (đo bằng megapascal - MPa) và độ hút nước bão hòa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ các mẫu nguyên vật liệu đại diện tại địa bàn tỉnh Quảng Nam: cát vàng khai thác từ sông Thu Bồn (huyện Điện Bàn), đá mạt từ mỏ đá Phú Thọ (huyện Quế Sơn) và xi măng PCB40 Đồng Lâm. Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết kế đồng bộ với hệ thống tổ mẫu 3 viên gạch nguyên tiêu chuẩn kích thước 170 x 115 x 75 mm cho mỗi thành phần cấp phối tại các mốc thời gian dưỡng hộ 3 ngày, 7 ngày, 14 ngày và 28 ngày, phục vụ công tác nén phá hủy kiểm tra cường độ.

Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nguyên tắc lấy mẫu ngẫu nhiên và phương pháp chia tư theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7572:2006. Các chỉ tiêu của xi măng được xác định nghiêm ngặt theo TCVN 4030:2003 (độ mịn sàng 0,09 mm), TCVN 6016:2011 (độ bền nén mẫu vữa) và TCVN 6017:1995 (thời gian đông kết qua dụng cụ Vicat). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thực nghiệm kết hợp giải tích toán học là nhằm tìm ra nghiệm tối ưu của bài toán phối trộn hai loại cốt liệu rời rạc, đồng thời đo lường chính xác ứng suất phá hủy thực tế thông qua máy nén thủy lực chuyên dụng với hệ số chuyển đổi hình dạng K = 0,86.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả kiểm tra cơ lý ban đầu cho thấy cát sông Thu Bồn có khối lượng riêng đạt 2,66 g/cm3, độ hút nước 0,7%, khối lượng thể tích xốp 1,25 g/cm3, hàm lượng bụi bùn sét rất thấp ở mức 1,6% và mô đun độ lớn Mđl = 2,53, hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn TCVN 7570:2006. Đối với đá mạt mỏ Phú Thọ, các chỉ tiêu vật lý đạt khối lượng riêng 2,73 g/cm3, độ hút nước 0,3%, hàm lượng bụi bùn sét 4,95% và mô đun thô Mđl = 3,19. Tuy nhiên, thành phần hạt của đá mạt đơn lẻ không đạt chuẩn do lượng sót tích lũy trên sàng 2,5 mm lên tới 20,51% (quy chuẩn 0 đến 20%) và sàng 1,25 mm đạt 53,45% (quy chuẩn 15 đến 45%).

Thông qua phương pháp giải tích đường cong cấp phối hạt, nghiên cứu đã xác định tỷ lệ phối trộn tối ưu là 30% cát sông Thu Bồn kết hợp 70% đá mạt Phú Thọ. Hỗn hợp cốt liệu mới đạt mô đun độ lớn Mđl = 2,99, khối lượng thể tích xốp 1,33 g/cm3 và 100% cỡ sàng đều nằm hoàn hảo trong giới hạn cho phép của TCVN 7570:2006 (lượng sót sàng 2,5 mm giảm xuống 15,82% và sàng 1,25 mm đạt 41,96%).

Trong các cấp phối đúc thử nghiệm với lượng nước cố định 260 lít/m3 vữa, cấp phối H4 sử dụng 8% xi măng (tương đương 157 kg xi măng kết hợp 443 kg cát và 1033 kg đá mạt) đạt cường độ nén 28 ngày trung bình 7,6 MPa, chính thức vượt mác thiết kế M7,5. Đáng chú ý, cấp phối H4 cho cường độ chịu nén cao hơn cấp phối H3 (sử dụng 9% xi măng, đạt 6,6 MPa) là 15,15% và vượt trội hơn cấp phối H2 (sử dụng 10% xi măng, chỉ đạt 5,8 MPa) tới 31,03%.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng cấp phối có hàm lượng xi măng thấp nhất (8%) lại đạt cường độ chịu nén cao nhất được giải thích một cách thuyết phục dựa trên động học quá trình thủy hóa. Với lượng nước trộn cố định 260 lít cho 1 m3 vữa, khi tăng lượng xi măng lên 9% (177 kg) và 10% (196 kg), tỷ lệ N/X bị sụt giảm khiến hỗn hợp không đủ lượng nước cần thiết để bão hòa toàn bộ các hạt xi măng. Hậu quả là phần clinker chưa thủy hóa tạo thành các vùng khuyết tật trong mạng lưới liên kết. Ngược lại, ở cấp phối 8% xi măng, tỷ lệ N/X đạt điểm cân bằng lý tưởng, xi măng thủy hóa triệt để, hạn chế tối đa nước tự do dư thừa bay hơi tạo lỗ rỗng, từ đó làm tăng độ đặc chắc của cấu trúc đá xi măng.

Dữ liệu phát triển cường độ được thể hiện rất rõ nét qua biểu đồ đường tiến trình thời gian: mẫu H4 phát triển nhanh từ 4,1 MPa ở 3 ngày tuổi lên 5,0 MPa ở 7 ngày tuổi, 5,7 MPa ở 14 ngày tuổi và cán mốc 7,6 MPa tại 28 ngày tuổi. Các bảng thống kê phân tích cấp phối hạt cung cấp cơ sở trực quan giúp người vận hành dây chuyền máy ép rung định lượng chuẩn xác nguyên liệu đầu vào. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tiên tiến trong ngành vật liệu khi khẳng định: tối ưu hóa cấp phối hạt cốt liệu cho phép giảm 10% đến 20% lượng xi măng tiêu hao mà vẫn đảm bảo độ bền cơ học vượt trội cho khối xây.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy mạnh ứng dụng gạch bê tông không nung chất lượng cao từ nguồn khoáng sản địa phương, các giải pháp mang tính hành động cao cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận và phối trộn cốt liệu hỗn hợp tại các nhà máy. Bộ phận kỹ thuật của các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cần thiết lập tỷ lệ phối trộn cố định 30% cát vàng sông Thu Bồn và 70% đá mạt nghiền mỏ Phú Thọ. Mục tiêu đạt 100% các mẻ trộn có thành phần hạt thỏa mãn TCVN 7570:2006, thực hiện ngay từ quý 2 năm 2024.

Thứ hai, tự động hóa khâu kiểm soát độ ẩm và tỷ lệ Nước/Xi măng. Doanh nghiệp cần lắp đặt hệ thống cảm biến đo độ ẩm tự động tại các phễu chứa cốt liệu để tự động bù trừ lượng nước trộn trong khoảng thời gian 6 tháng tới. Đảm bảo lượng nước định mức duy trì chuẩn xác 260 lít cho mỗi mét khối vữa, khống chế sai số thể tích dưới 1,5% nhằm tối ưu hóa phản ứng thủy hóa của xi măng PCB40.

Thứ ba, cải tiến chu trình đúc ép rung và chế độ dưỡng hộ thành phẩm. Đội ngũ kỹ sư vận hành máy ép rung thủy lực cần duy trì chu kỳ ép kết hợp rung từ 15 đến 20 giây để đạt độ lèn chặt tối đa. Sản phẩm sau khi tạo hình phải được dưỡng hộ sơ bộ trong nhà xưởng có mái che từ 24 đến 36 giờ trước khi chuyển ra bãi lưu dưỡng ẩm 28 ngày, giúp hạ độ hút nước xuống dưới 12% và kiểm soát độ rỗng viên gạch dưới 60%.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế và tăng cường kiểm định chất lượng từ cơ quan quản lý. Sở Xây dựng tỉnh Quảng Nam cần phối hợp với các trung tâm kiểm định đẩy mạnh cấp chứng nhận hợp quy theo TCVN 6477:2011 cho các đơn vị đạt chuẩn, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sử dụng gạch không nung trong các công trình vốn ngân sách nhà nước lên 50% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Doanh nghiệp và chủ cơ sở sản xuất gạch bê tông không nung: Tiếp cận trực tiếp công thức cấp phối tối ưu 30% cát kết hợp 70% đá mạt cùng 8% xi măng PCB40 để ứng dụng ngay vào dây chuyền ép rung công nghiệp, giúp cắt giảm từ 10% đến 15% chi phí xi măng mà sản phẩm vẫn đạt mác M7,5.

Kỹ sư thiết kế kết cấu và chỉ huy trưởng công trình xây dựng: Nắm bắt chính xác các thông số cơ lý như cường độ nén 7,6 MPa, hệ số hình dạng 0,86 và đặc tính bám dính vữa để tính toán kết cấu tường bao che, ngăn ngừa triệt để hiện tượng nứt vách và thấm dột công trình.

Cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu quy hoạch đô thị: Sử dụng các dữ liệu khoa học thực chứng để xây dựng bộ định mức dự toán xây dựng địa phương, hỗ trợ việc thẩm định dự án và ban hành các chính sách khuyến khích chuyển đổi vật liệu xây dựng bền vững.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm vật liệu vô cơ, kỹ thuật xử lý thành phần hạt cốt liệu và quy trình thí nghiệm cơ lý chuẩn quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao không thể sử dụng 100% đá mạt mỏ Phú Thọ để sản xuất gạch?

Đá mạt Phú Thọ có mô đun độ lớn Mđl = 3,19 với lượng sót tích lũy trên sàng 2,5 mm (20,51%) và 1,25 mm (53,45%) đều vượt ngưỡng cho phép của TCVN 7570:2006. Nếu dùng đơn lẻ, hỗn hợp sẽ quá thô, tạo nhiều lỗ rỗng lớn làm giảm độ đặc chắc và suy giảm nghiêm trọng cường độ chịu nén của viên gạch.

Vì sao cấp phối chứa 8% xi măng lại cho cường độ cao hơn cấp phối chứa 10% xi măng?

Với lượng nước giữ cố định ở mức 260 lít/m3, cấp phối 8% xi măng (157 kg) đạt tỷ lệ Nước/Xi măng tối ưu giúp phản ứng thủy hóa diễn ra hoàn toàn và ít nước tự do dư thừa. Ngược lại, cấp phối 10% xi măng (196 kg) bị thiếu nước thủy hóa, dẫn đến hình thành cấu trúc đá xi măng xốp và làm giảm cường độ nén từ 7,6 MPa xuống còn 5,8 MPa.

Gạch xi măng cốt liệu sản xuất theo cấp phối tối ưu đạt mác chịu lực bao nhiêu?

Cấp phối tối ưu phối trộn 30% cát sông Thu Bồn và 70% đá mạt Quế Sơn với 8% xi măng PCB40 Đồng Lâm cho kết quả cường độ nén ở 28 ngày tuổi đạt trung bình 7,6 MPa. Trị số này đạt và vượt yêu cầu của mác M7,5 theo quy định tại tiêu chuẩn TCVN 6477:2011 dành cho gạch bê tông xây dựng.

Quy trình dưỡng hộ gạch bê tông không nung tiêu chuẩn tại xưởng diễn ra như thế nào?

Viên gạch sau khi tạo hình bằng máy ép rung thủy lực cần được lưu giữ và dưỡng hộ sơ bộ trong nhà xưởng có mái che từ 24 đến 36 giờ (1 đến 1,5 ngày) để hình thành cường độ ban đầu. Sau đó, sản phẩm được chuyển ra bãi ngoài trời tiếp tục dưỡng hộ ẩm bằng cách tưới nước định kỳ đến đủ 28 ngày trước khi xuất xưởng.

Việc ứng dụng gạch không nung mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường cụ thể ra sao?

Về mặt kinh tế, sử dụng gạch xi măng cốt liệu giúp giảm chi phí xây dựng công trình trên 20% so với gạch nung truyền thống. Về môi trường, công nghệ này tận dụng 100% nguồn phế thải đá mạt tại mỏ, loại bỏ hoàn toàn việc khai thác đất sét nông nghiệp và không tiêu thụ than đá, giúp cắt giảm 100% khí thải CO2 độc hại.

Kết luận

  • Xác định chính xác các chỉ tiêu cơ lý của nguồn cốt liệu địa phương gồm cát sông Thu Bồn (Mđl = 2,53) và đá mạt mỏ Phú Thọ (Mđl = 3,19) theo hệ thống tiêu chuẩn TCVN 7572:2006.
  • Thiết lập thành công tỷ lệ phối trộn cốt liệu tối ưu 30% cát kết hợp 70% đá mạt, đưa mô đun hỗn hợp đạt Mđl = 2,99 và thỏa mãn 100% các tiêu chí thành phần hạt của TCVN 7570:2006.
  • Chế tạo thành công gạch bê tông không nung cấp phối H4 (chỉ sử dụng 8% xi măng PCB40) đạt cường độ nén 28 ngày lên tới 7,6 MPa, vượt mác thiết kế M7,5 theo TCVN 6477:2011.
  • Chứng minh tính ưu việt về mặt kinh tế kỹ thuật khi tiết kiệm 10% đến 15% lượng xi măng liên kết, hạ giá thành thi công công trình hơn 20% và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
  • Đề xuất lộ trình đến năm 2025 chuyển giao toàn diện quy trình công nghệ cho các nhà máy gạch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng xây dựng công trình xanh bền vững.