Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tai nạn lao động Chương 2: Thực trạng chế độ tai nạn lao động Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về chế độ tai nạn lao động tại Việt Nam và Kiến nghị hoàn thiện 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG 1. Khái niệm về tai nạn lao động 1. Khái niệm tai nạn lao động Lao động là một hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải vật chất để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của chúng ta. Lao động là sự kết hợp giữa sức lao động của con người và tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất, phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người và cũng vì mục đích phát triển kinh tế.
Để sản xuất ra nhiều sản phẩm, với thời gian nhanh hơn, tiết kiệm được chi phí, sức lao động của con người thì người ta cần đến sự hỗ trợ của công cụ lao động sản xuất, vì vậy đã có sự ra đời của công cụ lao động sản xuất, kèm theo đó dù ít dù nhiều sẽ xuất hiện tai nạn lao động. Tai nạn lao động (viết tắt là TNLÐ) luôn "rình rập" và trở thành thảm họa đối với bất kỳ người lao động (viết tắt là NLÐ) nào, nếu một giây mất cảnh giác. Dù hằng năm, các cấp, các ngành đều tổ chức Tuần lễ an toàn, vệ sinh lao động, với nhiều chương trình hành động nhằm nâng cao nhận thức của các cấp quản lý, chủ doanh nghiệp và NLÐ. Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực và kết quả đạt được, TNLÐ vẫn tiếp diễn khó lường, với số vụ, số người bị tai nạn ngày càng tăng.
Lao động trong ngành nghề khai thác than và đóng tàu là một trong những công việc có tỷ lệ rủi ro cao dù các cơ quan, đơn vị luôn coi trọng công tác an toàn, vệ sinh lao động, hoạt động bài bản, quy củ, nền nếp1. 1 (Báo Nhân Dân điện tử, An toàn cho người lao động, Đặng Thanh Hà, http://www.vn/xahoi/item/32755702-an-toan-cho-nguoi-lao-dong. ngày truy cập 05/7/2017). 7 Tai nạn lao động khi xảy đến sẽ gây ra cho mỗi con người, mỗi gia đình những tổn thất, đau thương không gì có thể bù đắp được, vì vậy trong quá trình lao động chúng ta cần phải chú trọng đến vấn đề an toàn lao động, cần đặt sự an toàn của người tham gia lao động lên hàng đầu.
Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chúng ta, vấn đề đảm bảo an toàn lao động luôn được quan tâm hàng đầu, đã trở thành quốc sách. Cụ thể là từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp bút soạn thảo, và các văn bản Hiến pháp tiếp theo sau đó, cũng như gần đây nhất là bản Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ các quyền của người lao động, trong đó có quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH), được đảm bảo về an sinh xã hội2. Ngoài ra còn có các văn bản luật khác như là Nghị quyết, Chỉ thị của Ban chấp hành trung ương Đảng về đẩy mạnh an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng được ban hành. Tai nạn, là chấn thương không chủ ý, là một sự kiện không mong muốn, ngẫu nhiên và không có kế hoạch, dẫn đến bị thương hoặc chết người, gây thiệt hại cho người và tài sản3.
Tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật lao động năm 2012 (sau đây viết tắt là BLLĐ 2012), quy định: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”4. Từ những quy định của pháp luật hiện hành, có thể rút ra khái niệm: “Tai nạn lao động là tai nạn gây ra những chấn thương, tổn thương cho bất kỳ chức năng, bộ phận nào của cơ thể người lao động, và nó xảy ra trong quá 2 Điều 43 Hiến pháp 2013 3 https://vi.org/wiki/Tai_n%E1%BA%A1n.Báchkhoa toàn thư mở. Truy cập ngày 27/11/2017. 4 Bộ luật lao động năm 2012.
8 trình người lao động đang tham gia lao động, xảy ra khi họ đang trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi ở và nơi làm việc”. Như vậy, tai nạn lao động xảy ra trong thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết khi đang làm việc theo Bộ luật lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn trưa giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc, những thời gian này hiện nay đã được pháp luật xem là thời giờ làm việc5. Mặc dù quy định là vậy, nhưng trên thực tế vẫn có nhiều những nhận thức khác biệt nhau về các vấn đề này, tác giả sẽ phân tích rõ hơn ở các phần sau. Đặc điểm tai nạn lao động Tai nạn còn gọi là chấn thương không chủ ý, là một sự kiện không mong muốn, ngẫu nhiên và không có kế hoạch, dẫn đến bị thương hoặc chết người6.
Tai nạn là một sự kiện xảy ra ngay khi cả người lao động, người sử dụng lao động và cả tập thể lao động không thể nào biết trước được là tai nạn sẽ xảy ra với ai, xảy ra ở đâu, mức độ tai nạn nặng hay nhẹ và xảy ra như thế nào. Đôi khi nó lại là tai nạn do rủi ro, không phải là tai nạn lao động, nhưng cũng có thể đó là tai nạn lao động. Chính vì vậy, cần phải phân biệt được đâu là tai nạn do rủi ro, và đâu là tai nạn lao động. Để phân biệt, chúng ta dựa vào những đặc điểm riêng của tai nạn lao động, điều này giúp ta xác định được chính xác hơn đâu là tai nạn rủi ro, và đâu là tai nạn lao động.
Trên cơ sở khái niệm tai nạn lao động trên đây, có thể thấy tai nạn lao động có những đặc trưng cơ bản như sau: 5 Điều 3-Nghị định 45/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 Nghị định hướng dẫn Bộ luật lao động thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động. 6 Bách khoa toàn thư mở: http:iivi. 9 - Thứ nhất: những tai nạn được gọi là tai nạn lao động phải xảy ra bất ngờ, con người không thể lường trước được (không biết được chính xác về thời gian và không gian). Vì là một dạng rủi ro, nên TNLĐ phải mang yếu tố bất ngờ, tức là trong quá trình đang sản xuất, tai nạn này xảy ra bất ngờ và đột ngột, làm cho người lao động và người sử dụng lao động không thể lường trước được sự việc sẽ xảy ra, không biết rằng nó sẽ xảy đến khi nào, tại địa điểm nào, và sự việc xảy ra này gây thiệt hại cho người và tài sản.
- Thứ hai: gọi là tai nạn lao động khi và chỉ khi gắn với quá trình làm việc của người lao động, trong một khoảng thời gian và không gian cụ thể (nghĩa là được quy định chính xác ở đâu và khi nào). Để được xem là TNLĐ thì tai nạn khi xảy ra phải gắn với quá trình làm việc của người lao động, nó xảy đến trong khi người lao động đang thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định, phù hợp với nội quy quy chế của đơn vị sử dụng lao động, hoặc theo sự thỏa thuận lao động của các bên, theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể., khi đó tai nạn xảy ra trong khoảng thời gian quy định là giờ làm việc, và nơi mà người lao động đang thực hiện nhiệm vụ, hoặc trên đoạn đường di chuyển đến nơi thực hiện trong thời gian được quy định. Đây là nguyên nhân để ta phân biệt giữa TNLĐ và tai nạn do rủi ro, để xem xét và chi trả chế độ bảo hiểm cho người lao động. 10 - Thứ ba, tai nạn này phải để lại hậu quả hoặc là chết người, hoặc là làm tổn thương, hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể người lao động.7 Theo Điều 142 Bộ luật lao động hiện hành quy định “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.
Về bản chất, tai nạn lao động là tai nạn rủi ro, nhưng rủi ro ở đây đó là xảy ra trong quá trình lao động, trong quá trình người lao động đang tiến hành làm việc, thực hiện nhiệm vụ lao động, nó khác với tai nạn rủi ro ở chỗ là có thể xảy ra với bất kỳ ai, và ở bất kỳ nơi đâu chứ không gói gọn trong quy định là người lao động đang thực hiện nhiệm vụ lao động. Tai nạn lao động có thể sẽ gây ra hậu quả đó là thiệt hại về người và tài sản, trong đó thiệt hại về người được xem là hậu quả nghiêm trọng và chủ yếu nhất. Tai nạn lao động xảy ra gây cho người lao động hoặc là bị thương tích nặng, mất sức lao động, hoặc hậu quả nặng nề hơn đó là cướp đi sinh mạng của người lao động, nếu may mắn hơn hết họ thoát khỏi cái chết do tai nạn nhưng sẽ để lại những di chứng, gây tật nguyền suốt đời. Suy giảm khả năng lao động, tỷ lệ tổn thương cơ thể hay là tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là những khái niệm được dùng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của tai nạn lao động đối với khả năng phục hồi của người lao động.
Cơ quan giám định y khoa là cơ quan chuyên môn xác định tỷ lệ tổn 7 Trang điện tử BHXH thành phố Đà Nẵng, Chế độ tai nạn ở Việt Nam-nhìn từ cơ sở lý luận, TS. Bùi Thị Lâm Hà, http://www.aspx?NewID=Che-do-tai-nan-o-Viet-Nam---nhin-tu-co-so-ly- luan, ngày truy cập 27/11/2017. 11 thương cơ thể, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, căn cứ vào kết quả giám định của cơ quan này sẽ xác định được các chế độ tai nạn lao động theo quy định mà người lao động sẽ được hưởng.